Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Lương Đắc Bằng”

n
Không có tóm lược sửa đổi
==Nguồn gốc và giáo dục==
 
Lương Đắc Bằng (1472 - 1522),<ref>[[s:Trang:Viet Nam Su Luoc 1.djvu/279|Việt Nam sử lược/Quyển I/Phần III/Chương XV]]</ref> 1472sinh - 1522),trưởng ngườitại làng Hội Trào (Hội Triều), huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hóa (nay là xã Hoằng Phong, huyện [[Hoằng Hóa|Hoằng Hoá]], tỉnh [[Thanh Hóa]]), từ lúc bé đã có tiếng thần đồng.<ref name="ReferenceA">Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2007, tr 302, 303</ref>
 
==Sự nghiệp==
 
Ông đỗ [[Bảng nhãn]] hay Hội nguyên ở kì thi Hội năm Kỷ Mùi 1499 đời vua [[Lê Hiến Tông]]; rồi thi Đình đỗ Nhất giáp tiến sĩ tên thứ 2, khi ứng chế được xếp thứ nhất.<ref>phép thi thời này là có kì thi Hội, rồi thi Đình; thi Đình là thi vòng cuối, thường nhà vua trực tiếp vấn đáp</ref>. Ra làm quan, được thăng đến chức Tả Thị Lang [[bộ Lễ]], Thị độc viện hàn lâm coi việc ở viện.<ref name="ReferenceA"/>
 
Năm 1504, vua Hiến Tông chết, người con thứ lên làm vua, tức vua [[Lê Túc Tông]], Lê Túc Tông chết sớm, người anh lên thay tức vua [[Lê Uy Mục]]. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: ''Vua nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, tàn hại người tông thất, giết ngầm tổ mẫu, họ ngoại hoành hành, trăm họ oán giận, người bấy giờ gọi là Quỷ vương, điềm loạn đã xuất hiện từ đấy.'' Năm 1509, vua Uy Mục đuổi những người tôn thất, công thần về Thanh Hóa, đại thần [[Nguyễn Văn Lang]] có trong số đó, ông đem quân ba phủ nổi quân ở Thanh Hóa, đón Giản tu công Lê Dinh làm minh chủ. Lê Đắc Bằng tham gia trong đó, Nguyễn Văn Lang bèn sai Lê Đắc Bằng soạn hịch kể tội vua Uy Mục.<ref>Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1998, trang 48</ref>
# Bớt việc phục dịch để thỏa tình dân trông ngóng.
# Hiệu lệnh phải nhất định để thống nhất lòng bốn phương
# Cẩn thận pháp độ để mở đường thịnh trị .<ref>[http://www.baobinhduong.org.vn/detail.aspx?Item=9061 Lương Đắc Bằng: Dâng sách "Trị Bình" nổi tiếng]</ref>.<ref name="ReferenceA"/>
 
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép là ''vua nghe theo''; sách Lịch triều hiến chương loại chí viết ''vua khen ngợi và nhận lời''. Ông làm quan đến Thượng thư bộ Lại, được Tham dự triều chính, tước Đôn trung bá. Hơn 50 tuổi thì chết, con ông là Lương Hữu Khánh, theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm, trước đi thi theo nhà Mạc nhưng sau theo Trịnh Kiểm, làm đến Thượng thư, tước Đạt quận công.<ref name="ReferenceB">Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2007, tr 302, 303, 313</ref>
 
==Tư liệu sách Nam Hải dị nhân==
Trong cuốn [[Nam Hải Dị Nhân]] của tác giả [[Phan Kế Bính]] có chép tiểu sử của ông. Viết rằng ông có người bà con ở Trung Quốc, mới mua được sách quí, nên giỏi nghề lí số. Ngoại 50, chưa có con trai, vợ mang thai 3 tháng, lúc sắp mất dặn vợ cho con học Nguyễn Bỉnh Khiêm. Con là Hữu Khánh mới 10 tuổi đã biết làm văn, ăn khỏe nên xin mẹ đi tha phương cầu thực làm thơ kiếm cơm....<ref>Nam Hải dị nhân, Nhà xuất bản trẻ, 1988, chương 2, phần Lương Hữu Khánh</ref>
 
Sách Nam Hải dị nhân chép học trò ông nổi tiếng có [[Nguyễn Bỉnh Khiêm]] sinh năm Tân Hợi (1491), người tỉnh [[Hải Dương]]. Nhận thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm tính tình khoáng đạt và thích lý số, nên ông truyền dạy và trao cho toàn bộ ''Thái Ất thần kinh''. Sau này Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ [[trạng nguyên]], làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư [[nhà Mạc]], tước Trình Quốc Công, người đời thường gọi là Trạng Trình, ông có truyền lại cuốn "sấm Trạng Trình" tiên đoán việc đời sau.