Khác biệt giữa các bản “Thảo luận:Hôn nhân đồng giới”

không có tóm lược sửa đổi
 
[[Thành viên:Phucuongdt|Phucuongdt]] ([[Thảo luận Thành viên:Phucuongdt|thảo luận]]) 01:55, ngày 5 tháng 9 năm 2019 (UTC)
 
Ví dụ, toàn bộ đoạn này đã bị tài khoản rối này xóa bỏ tại phiên bản hiện tại:
 
====Sự đồng thuận====
Các nghiên cứu khoa học đã so sánh trực tiếp kết quả đối với trẻ em của cha mẹ đồng tính với cha mẹ dị tính và đã thống nhất trong việc khẳng định cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam là phù hợp và có khả năng như các bậc cha mẹ khác giới, đồng thời con cái của họ phát triển tâm lý lành mạnh và tốt như con cái nuôi bởi cha mẹ dị tính<ref name=apsp>{{chú thích web|url=http://www.psychology.org.au/Assets/Files/LGBT-Families-Lit-Review.pdf |title=Elizabeth Short, Damien W. Riggs, Amaryll Perlesz, Rhonda Brown, Graeme Kane: Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender (LGBT) Parented Families – A Literature Review prepared for The Australian Psychological Society |format=PDF |date= |accessdate = ngày 5 tháng 11 năm 2010}}</ref><ref name=amici2010>[http://www.ca9.uscourts.gov/datastore/general/2010/10/27/amicus29.pdf Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, The American Psychiatric Association, and the American Association for Marriage and Family Therapy as Amici Curiae in support of plaintiff-appellees]</ref><ref name=cpa>Canadian Psychological Association: [http://www.cpa.ca/cpasite/userfiles/Documents/Marriage%20of%20Same-Sex%20Couples%20Position%20Statement%20-%20October%202006%20%281%29.pdf Marriage of Same-Sex Couples – 2006 Position Statement Canadian Psychological Association]</ref>. Các nghiên cứu xã hội học chỉ ra rằng các yếu tố tài chính, tâm lý và thể chất hạnh phúc của cha mẹ được tăng cường bởi hôn nhân và rằng trẻ em được hưởng lợi từ việc nuôi dưỡng bởi cha mẹ khi hôn nhân được công nhận về mặt pháp lý.<ref name=pediatrics>{{Cite journal |vauthors=Pawelski JG, Perrin EC, Foy JM, etal |title=The effects of marriage, civil union, and domestic partnership laws on the health and well-being of children|journal=Pediatrics|volume=118|issue=1|pages=349–64|date=July 2006|pmid=16818585|doi=10.1542/peds.2006-1279}} available online: http://pediatrics.aappublications.org/cgi/content/full/118/1/349</ref><ref name=amici2010>{{chú thích web|title=Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, The American Psychiatric Association, and The American Association of Marriage and Family Therapy as Amici Curiae in Support of Plaintiff-Appellees|url=http://www.ca9.uscourts.gov/datastore/general/2010/10/27/amicus29.pdf|publisher=[[United States Court of Appeals for the Ninth Circuit]]|accessdate=ngày 28 tháng 9 năm 2012}}</ref><ref name=cpa>Canadian Psychological Association: [http://www.cpa.ca/cpasite/userfiles/Documents/Marriage%20of%20SameSex%20Couples%20Position%20Statement%20-%20October%202006%20%281%29.pdf Marriage of Same-Sex Couples – 2006 Position Statement Canadian Psychological Association]</ref><ref name=lamb>[[Michael Lamb (psychologist)|Michael Lamb]], [http://www.glad.org/uploads/docs/cases/gill-v-office-of-personnel-management/2009-11-17-doma-aff-lamb.pdf Affidavit – United States District Court for the District of Massachusetts (2009)]</ref>, mặc dù trên thực tế sự phân biệt pháp lý và bất bình đẳng vẫn là thách thức đáng kể đối với các gia đình đồng tính.<ref name=apsp>{{chú thích web|url=http://www.psychology.org.au/Assets/Files/LGBT-Families-Lit-Review.pdf|title=Elizabeth Short, Damien W. Riggs, Amaryll Perlesz, Rhonda Brown, Graeme Kane: Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender (LGBT) Parented Families&nbsp;– A Literature Review prepared for The Australian Psychological Society|accessdate=ngày 5 tháng 11 năm 2010}}</ref> Các hiệp hội chủ yếu của các chuyên gia sức khỏe tâm thần ở Mỹ, Canada, và Australia cho biết chưa xác định được nghiên cứu thực nghiệm nào đáng tin cậy cho kết quả khác.<ref name=pediatrics>{{cite journal |author=Pawelski JG, Perrin EC, Foy JM, ''et al.'' |title=The effects of marriage, civil union, and domestic partnership laws on the health and well-being of children |journal=Pediatrics |volume=118 |issue=1 |pages=349–64 |date=July 2006 |pmid=16818585 |doi=10.1542/peds.2006-1279}}</ref><ref name="herek2006"/><ref name=amici2010>{{chú thích web|title=Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, The American Psychiatric Association, and The American Association of Marriage and Family Therapy as Amici Curiae in Support of Plaintiff-Appellees|url=http://www.ca9.uscourts.gov/datastore/general/2010/10/27/amicus29.pdf|publisher=[[United States Court of Appeals for the Ninth Circuit]]|accessdate=ngày 28 tháng 9 năm 2012}}</ref><ref name=stacey2010>[http://www3.interscience.wiley.com/cgi-bin/fulltext/123248173/HTMLSTART?CRETRY=1&SRETRY=0 How Does the Gender of Parents Matter]</ref><ref name=cpa2005>[http://www.cpa.ca/cpasite/UserFiles/Documents/advocacy/brief.pdf Brief presented to the Legislative House of Commons Committee on Bill C38 yb the Canadian Psychological Association – ngày 2 tháng 6 năm 2005.]</ref> Kết quả các thống kê cho thấy việc chăm sóc trẻ em và những công việc khác trong các gia đình đồng tính được phân chia đồng đều hơn giữa hai người hơn<ref>{{chú thích báo|last=Escobar|first=Samantha|title=Children of Gay Couples Impacted By Parents' Relationship But Not Sexual Orientation: Study|url=http://www.huffingtonpost.com/2013/07/27/children-of-gay-couples-_n_3660310.html|publisher=Huffington Post|accessdate=ngày 4 tháng 10 năm 2013|date=ngày 27 tháng 7 năm 2013}}</ref>, và rằng không có sự khác biệt về lợi ích và sở thích của trẻ em có cha mẹ đồng tính so với trẻ em có cha mẹ dị tính.<ref>{{chú thích web|title=Gay and Lesbian Parents|url=http://www.healthychildren.org/English/family-life/family-dynamics/types-of-families/pages/Gay-and-Lesbian-Parents.aspx?nfstatus=401&nftoken=00000000-0000-0000-0000-000000000000&nfstatusdescription=ERROR%3A+No+local+token&nfstatus=401&nftoken=00000000-0000-0000-0000-000000000000&nfstatusdescription=ERROR%3a+No+local+token|publisher=American Academy Of Pediatrics|accessdate=ngày 4 tháng 10 năm 2013}}</ref>
 
Từ những năm 1970, các kết quả đã ngày càng rõ ràng rằng phương pháp và quá trình phát triển của gia đình (chẳng hạn như "chất lượng" của cha mẹ, trạng thái tâm lý xã hội hạnh phúc của cha mẹ, chất lượng và sự hài lòng với các mối quan hệ trong gia đình, mức độ hợp tác và hòa hợp giữa cha mẹ) góp phần vào việc tạo nên hạnh phúc của trẻ em chứ không phải là cấu trúc gia đình (chẳng hạn như tình trạng số lượng, giới tính hay khuynh hướng tình dục của cha mẹ).<ref name=apsp>{{chú thích web|url=http://www.psychology.org.au/Assets/Files/LGBT-Families-Lit-Review.pdf|title=Elizabeth Short, Damien W. Riggs, Amaryll Perlesz, Rhonda Brown, Graeme Kane: Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender (LGBT) Parented Families&nbsp;– A Literature Review prepared for The Australian Psychological Society|accessdate=ngày 5 tháng 11 năm 2010}}</ref><ref name=lamb>[[Michael Lamb (psychologist)|Michael Lamb]], [http://www.glad.org/uploads/docs/cases/gill-v-office-of-personnel-management/2009-11-17-doma-aff-lamb.pdf Affidavit – United States District Court for the District of Massachusetts (2009)]</ref>.
 
Giáo sư [[Judith Stacey]] thuộc [[Đại học New York]] cho biết: "Hiếm khi có càng nhiều sự đồng thuận trong bất kỳ lĩnh vực khoa học xã hội như trong trường hợp của cha mẹ đồng tính, đó là lý do [[Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ]] và tất cả các tổ chức nghề nghiệp lớn có chuyên môn liên quan tới phúc lợi xã hội về trẻ em đã ban hành báo cáo và nghị quyết ủng hộ quyền làm cha mẹ của người đồng tính nam và đồng tính nữ ".<ref>cited in Cooper & Cates, 2006, p. 36; citation available on http://www.psychology.org.au/Assets/Files/LGBT-Families-Lit-Review.pdf</ref> Các tổ chức này bao gồm [[Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ]], Học viện nghiên cứu tâm lý trẻ em và vị thành niên, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, các hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ, các hiệp hội vì hôn nhân và gGia đình trị liệu Hoa Kỳ, các hiệp hội phân tâm học Hoa Kỳ, các hiệp hội quốc gia người lao động xã hội, các liên đoàn phúc lợi trẻ em Hoa Kỳ, các Hội đồng về nhận nuôi trẻ em Bắc Mỹ và Hiệp hội tâm lý học Canada. Năm 2006, giáo sư [[Gregory M. Herek]] viết trong tạp chí Tâm lý học Mỹ (của hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ): "Nếu đồng tính nam, đồng tính nữ có ít hơn khả năng nếu so sánh với các bậc cha mẹ khác giới thì chúng tôi sẽ phát hiện và chứng minh được vấn đề khi phân biệt các loại mẫu, tuy nhiên mô hình này rõ ràng đã không quan sát được. Các nghiên cứu thực nghiệm cho đến nay dù thực hiện trên các xác suất mẫu cần thiết đã liên tục thất bại trong việc tìm mối liên hệ giữa sự phát triển của trẻ em và định hướng tình dục của cha mẹ. Với sự thất bại nhất quán trong các kết quả nghiên cứu này đã bác bỏ các giả thuyết của những người tranh luận rằng con cái của cha mẹ tình dục thiểu số là tồi tệ hơn so với những con cái của cha mẹ khác giới.<ref>[http://www.lgbpsychology.org/html/AP_06_pre.pdf Legal Recognition of Same-Sex Relationships in the United States: A Social Science Perspective]</ref>
 
Các nghiên cứu và phân tích bao gồm các phân tích Bridget Fitzgerald năm 1999 về đồng tính và cha mẹ đồng tính nữ được công bố trong Tạp chí Hôn nhân và Gia đình đã chỉ ra rằng "Các nghiên cứu hiện có nói chung kết luận rằng: khuynh hướng tình dục của cha mẹ không phải là một yếu tố dự báo hiệu quả và quan trọng nhất tới sự phát triển thành công ở trẻ em" <ref name="Fitzgerald">Bridget Fitzgerald, "Children of lesbian and gay parents: A review of the literature," Marriage and Family Review, 1999, Volume 29, Number 1.</ref>.<!--(Nguồn hỏng)Giáo sư tâm lý học [[Gregory M. Herek]] phân tích trong tạp chí Nhà tâm lý học Mỹ (American Psychologist) năm 2006 đã cho biết: "Mặc dù có sự thay đổi đáng kể về chất lượng của các mẫu, thiết kế nghiên cứu, phương pháp đo lường và kỹ thuật phân tích dữ liệu, các phát hiện đến nay đã có sự nhất quán đáng kể. Các nghiên cứu thực nghiệm so sánh trẻ em nuôi dưỡng bởi cha mẹ có xu hướng tình dục thiểu số với những người lớn lên bởi cha mẹ dị tính đã không tìm thấy sự chênh lệch đáng tin cậy về sức khỏe tâm thần hoặc và điều chỉnh hành vi xã hội. Sự khác biệt đã không được tìm thấy trong khả năng nuôi dạy con cái giữa các bà mẹ đồng tính nữ và các bà mẹ khác giới. Các nghiên cứu về những người cha đồng tính tuy ít về số lượng nhưng không cho thấy những người đàn ông đồng tính có bất kỳ sự ít phù hợp nào về làm cha mẹ nào so với đàn ông dị tính.<ref>[http://www.lgbpsychology.org/html/AP_06_pre.pdf Legal Recognition of Same-Sex Relationships in the United States: A Social Science Perspective]</ref>{{cite journal |author=Herek GM |title=Legal recognition of same-sex relationships in the United States: a social science perspective |journal=The American Psychologist |volume=61 |issue=6 |pages=607–21 |date=September 2006 |pmid=16953748 |doi=10.1037/0003-066X.61.6.607 |url=http://psychology.ucdavis.edu/rainbow/html/AP_06_pre.PDF}}</ref>-->
 
Trong tháng 6 năm 2010, kết quả của 25 năm nghiên cứu đang diễn ra theo chiều dọc của tiến sĩ, bác sĩ, nhà nghiên cứu [[Nanette Gartrell]] thuộc [[Đại học California]] và Phó giáo sư, tiến sĩ [[Henny Bos]] thuộc [[Đại học Amsterdam]] đã được phát hành. Gartrell và Bos đã nghiên cứu 78 trẻ em được sinh ra nhờ hỗ trợ thụ tinh nhân tạo và nuôi dưỡng bởi các bà mẹ đồng tính nữ. Các bà mẹ được phỏng vấn và đưa ra câu hỏi lâm sàng trong thời kỳ mang thai và khi con cái của họ được 2, 5, 10, và 17 tuổi. Trong bản tóm tắt của báo cáo, các tác giả cho biết: "Theo báo cáo, các cô con gái và người con trai của bà mẹ đồng tính nữ được đánh giá cao hơn đáng kể trong thành tích học tập ở trường học và trong xã hội cũng như tổng các năng lực nói chung, và thấp hơn đáng kể trong các vấn đề xã hội, sự phá bỏ các quy tắc, sự hung hăng, và biểu lộ các hành vi tiêu cực so với con cái các bà mẹ dị tính tương đương về tuổi." <ref name=Gartrell>{{cite journal | author = Gartrell N, Bos H | year = 2010 | title = US National Longitudinal Lesbian Family Study: Psychological Adjustment of 17-Year-Old Adolescents | url = http://pediatrics.aappublications.org/content/126/1/28.full | journal = Pediatrics | volume = 126 | issue = 1| pages = 28–36 | doi=10.1542/peds.2009-3153}}</ref>
 
Tóm tắt nghị quyết chung của các hiệp hội khoa học chuyên nghiệp lớn: [[Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ]], [[Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ]], [[Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ]], [[Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu Hoa Kỳ]], [[Hiệp hội bác sĩ gia đình Hoa Kỳ]], [[Hiệp hội y khoa hoa kỳ]], [[Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội Hoa Kỳ]], Hiệp hội tâm lý các bang Kentucky và Ohio, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu bang Michigan, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội các bang Tennessee, Michigan, Kentucky và Ohio đã nêu:<ref name="dx5br1z4f6n0k.cloudfront.net">[http://dx5br1z4f6n0k.cloudfront.net/imis15/Documents/Policies/APA-AAMFT-marriage-amicus-brief-Sup-Ct%202015-3-6.pdf]</ref>
 
<blockquote>
"Nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng các chiều tâm lý và xã hội của mối quan hệ và cam kết giữa các đối tác đồng tính là giống với các đối tác dị tính. Các cặp vợ chồng đồng tính hình thành tình cảm sâu sắc và kèm theo là các mối quan hệ gắn kết, với mức độ hài lòng của mối quan hệ là tương đương hoặc cao hơn so với các cặp vợ chồng dị tính. Họ cũng trải qua các quá trình tương tự như sự thân mật, tình yêu, sự công bằng, và các vấn đề khác của mối quan hệ<ref name="dx5br1z4f6n0k.cloudfront.net"/>.
 
Các nghiên cứu về đồng tính, đồng tính nữ, lưỡng tính làm cha mẹ bao gồm hàng chục nghiên cứu thực nghiệm, các nghiên cứu trước kia sử dụng các mẫu đại diện nhỏ không xác định được, nhưng những nghiên cứu gần đây đã sử dụng các mẫu xác suất quốc gia. Phát hiện của họ được tóm tắt trong ý kiến của nghiên cứu thực nghiệm được công bố trong sự tôn trọng, được các tạp chí đồng đẳng xem xét và đăng tải tại các sách, ấn phẩm khoa học. Phần lớn nghiên cứu khoa học đã trực tiếp so sánh giữa các nhóm và đã phát hiện ra rằng các cặp cha mẹ đồng tính nam và đồng tính nữ cha mẹ là phù hợp và có khả năng giống như các bậc cha mẹ khác giới, và con cái của họ thể hiện sự phát triển tâm lý lành mạnh và cũng được nuôi dạy tương tự. Các công trình nghiên cứu gần đây bao gồm "Cha mẹ đồng tính nam nữ và con cái của họ" (Patterson, AE Goldberg năm 2010), "Cuộc sống gia đình của người đồng tính nam và nữ" của CJ Patterson, "Sổ tay hôn nhân và Gia đình" (GW Peterson & KR Bush eds, 2013), "Trẻ em của cha mẹ Lesbian và Gay" của CJ Patterson (tạp chí Nhà tâm lý học, 2009), "Báo cáo kỹ thuật: Nhận con nuôi của cha mẹ đồng tính" (CJ Patterson), "Mối quan hệ gia đình của người đồng tính nữ và đồng tính nam" (J. Hôn nhân & Fam năm 2000, N. Anderssen), "Kết quả cho trẻ em của các bậc cha mẹ đồng tính" (Scand. J. Psychol), "Viễn cảnh đương đại về Lesbian, Gay", Hội nghị chuyên đề về Động lực phát triển(Nebraska, 2009), "Trẻ vị thành niên của cha mẹ đồng tính nam và nữ" (CJ Telingator & CJ Patterson), "Trẻ em vị thành niên và tâm thần học" (J. Am. Acad, 2008), "Điều chỉnh tâm lý của xã hội, trường học, mối quan hệ của thanh thiếu niên với cha mẹ đồng tính(JL Wainright), "Thiên hướng tình dục ở trẻ em trong gia đình đồng tính và đồng tính nữ"(H. Bos & TGM Sandfort, 2010), "Lesbian & Tình dục khác giới" (H. Bos), "Nuôi dạy và phát triển trẻ em trong các gia đình nhận con nuôi" (J. Child. & Fam. Stud, 2014), "Trẻ em với cha mẹ đồng tính nữ" (S. Golombok, tạp chí Tâm lý học quá trình phá triển 2003), "Chức năng tâm lý xã hội Trong số trẻ em của các cặp vợ chồng đồng tính và dị tính ở Vương quốc Anh (JL Wainright & CJ Patterson, Tạp chí tâm lý học phát triển, 2008), "Tình trạng phạm tội và sử dụng chất cấm trong thanh thiếu niên liên hệ với gia đình đồng tính" (J. Fam. Psychol, 2006)... đã đều kết luận rằng con cái của các bậc cha mẹ đồng tính nam và nữ được điều chỉnh tốt và mặt phát triển tương tự như con cái của các bậc cha mẹ khác giới<ref name="dx5br1z4f6n0k.cloudfront.net"/>.
 
Quan điểm rằng các cặp cha mẹ dị tính là tốt hơn hơn những cặp đồng tính, hoặc là con của cha mẹ đồng tính nữ hay đồng tính nam tồi tệ hơn so với trẻ em của cha mẹ khác giới, không được hỗ trợ bởi các bằng chứng khoa học thực nghiệm được tích lũy"<ref name="dx5br1z4f6n0k.cloudfront.net"/>.
</blockquote>
[[Thành viên:Phucuongdt|Phucuongdt]] ([[Thảo luận Thành viên:Phucuongdt|thảo luận]]) 02:10, ngày 5 tháng 9 năm 2019 (UTC)
388

lần sửa đổi