Mở trình đơn chính

Các thay đổi

Ngày [[13 tháng 8]] năm [[1942]], ông lấy tên '''Hồ Chí Minh''', sang [[Trung Quốc]] với danh nghĩa đại diện của cả [[Việt Minh]] và Hội Quốc tế Phản Xâm lược Việt Nam (một hội đoàn được ông tổ chức ra trước đó) để tranh thủ sự ủng hộ của [[Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949)|Trung Hoa Dân quốc]]. Đây là lần đầu tiên trong các giấy tờ cá nhân ông sử dụng tên Hồ Chí Minh, và khai nhân thân là "Việt Nam-Hoa kiều".<ref>Theo ''Bác Hồ - hồi ký'', Nhà Xuất bản Văn học, 2004, tấm danh thiếp mà ông sử dụng có dòng giữa được ghi tên "Hồ Chí Minh", một bên ghi "Tân văn ký giả" (tức là Nhà báo), một bên ghi "Việt Nam-Hoa kiều".</ref>
 
Hồ Chí Minh bị chính quyền địa phương của [[Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949)|Trung Hoa Dân quốc]] bắt ngày [[29 tháng 8]] khi đang đi cùng một [[Người Hán|người Trung Quốc]] dẫn đường và bị giam hơn một năm, trải qua khoảng 30 nhà tù. Ông viết ''[[Nhật ký trong tù]]'' trong thời gian này (từ [[tháng tám|tháng 8]] năm [[1942]] đến [[tháng chín|tháng 9]] năm [[1943]]). "[[Nhật ký trong tù"|''Nhật ký trong tù'']] là một tác phẩm được những tác giả [[Các dân tộc tại Việt Nam|người Việt Nam]], người phương Tây và cả [[người Trung Quốc]], như [[Quách Mạt Nhược]], [[Viên Ưng]] hay [[Hoàng Tranh]] đề cao.<ref>[http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2005/05/050520_nhatkytrongtu.shtml Tìm hiểu cuốn Ngục Trung Nhật Ký - BBC Tiếng Việt]</ref> Các đồng chí của ông ([[Phạm Văn Đồng]], [[Võ Nguyên Giáp]], [[Vũ Anh]]...) ở [[Việt Nam]] tưởng lầm là ông đã chết (sau này nguyên nhân được làm rõ là do một cán bộ [[Đảng Cộng sản]] tên ''Cáp'' đã nghe và hiểu sai ngữ nghĩa).<ref>Theo ''Bác Hồ - hồi ký'', phần của [[Võ Nguyên Giáp]] và phần của Vũ Anh, trang 268, 218 thì [[Võ Nguyên Giáp]] cho rằng: "có lẽ anh Cáp đã nghe lầm 'sư tờ, sư tờ' (nghĩa là 'phải, phải') thành 'xử la, xử la' (nghĩa là 'chết rồi')". Vũ Anh cho rằng: "đồng chí Cáp nghe nhầm câu 'người đi cùng ông ấy chết rồi' (Hồ Chí Minh khi bị bắt có đi cùng một [[người Trung Quốc]] làm nhiệm vụ dẫn đường) thành 'ông ấy chết rồi'".</ref> Họ thậm chí đã tổ chức đám tang và đọc điếu văn cho ông ([[Phạm Văn Đồng]] làm văn điếu) cũng như ''"mở chiếc va-li mây của Bác ra tìm xem còn những gì có thể giữ lại làm kỉ niệm"'' (lời của [[Võ Nguyên Giáp]]). Vài tháng sau họ mới biết được tình hình thực của ông sau khi nhận được thư do ông viết và bí mật nhờ chuyển về.
 
Ngày [[25 tháng 10]] năm [[1943]], Hội Quốc tế Chống Xâm lược ở [[Đông Dương]] gửi 2 bức thư, một cho Đại sứ Mỹ tại [[Trung Quốc]], bức còn lại cho Thống chế [[Tưởng Giới Thạch]] đề nghị can thiệp trả tự do cho Hồ Chí Minh, đồng thời đại diện của [[Đảng Cộng sản Trung Quốc]] ở [[Trùng Khánh]] đã tiếp xúc bí mật với các sĩ quan [[Cơ quan Tình báo chiến lược|OSS]] ([[Cơ quan Tình báo chiến lược]], Mỹ) và [[SACO]] để gợi ý rằng có thể khiến Hồ Chí Minh hợp tác với phe [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]].<ref>Why Vietnam?, Archimedes L.A.Patti, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, năm 2008, trang 108, 112.</ref> Sau khi thảo luận với Đại sứ quán Mỹ tại [[Trung Quốc]], OSS và cơ quan ngoại giao Mỹ thương lượng với chính phủ [[Trung Hoa Dân quốc]] để giải thoát Hồ Chí Minh khỏi nhà tù và thuyết phục ông cộng tác với OSS.<ref name="Patti113">Why Vietnam?, Archimedes L.A.Patti, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, năm 2008, trang 113.</ref> Cùng lúc đó [[Trương Phát Khuê]], tướng cai quản vùng [[Quảng Đông]] và [[Quảng Tây]] của [[Trung Quốc Quốc Dân Đảng|Quốc Dân Đảng]] cũng gây áp lực để buộc ông Hồ hoạt động cho Quốc dân Đảng.<ref name="Patti113"/> Hồ Chí Minh được trả tự do ngày [[10 tháng 9]] năm [[1943]], theo yêu cầu của [[Hoa Kỳ]].<ref name="nytimes%2Ecom"/> Có nguồn khác nói rằng tướng [[Trương Phát Khuê]] quyết định trả tự do cho Hồ Chí Minh nhằm lợi dụng ông và một số chính trị gia Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc ở miền Nam Trung Quốc chống [[Đế quốc Nhật Bản|phát xít Nhật]].<ref name="taybacuniversity%2Eedu%2Evn">[https://archive.is/20130506154933/www.taybacuniversity.edu.vn:8080/fhg/index.php?option=com_content&view=article&id=333:quan-h-vit-m-1944-1945&catid=25:hot-ng-nghien-cu-khoa-hc-ca-khoa-s-a Quan hệ Việt - Mỹ (1944-1945)<!-- Bot generated title -->]</ref> Trương Phát Khuê hy vọng Hồ Chí Minh có thể thống nhất và tổ chức lại các nhóm người Việt lưu vong ở miền Nam Trung Quốc thành một khối thuần nhất thân [[Trung Quốc]] mà sự chia rẽ, chống đối về phương pháp tiến hành đấu tranh và sự tranh giành quyền lực giữa lãnh tụ của các nhóm này đã che lấp mất mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc của họ đồng thời để chấn chỉnh [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội]] (Việt Cách) do Trung Quốc đỡ đầu.<ref>Why Vietnam?, Archimedes L.A Patti, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 113, 114.</ref>
Trong khi Hồ Chí Minh đang ở Pháp, các lãnh đạo [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] và [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội]] lần lượt rời bỏ Chính phủ vì bất đồng với [[Việt Minh]] về việc ký [[Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)|Hiệp định Sơ bộ]] cho phép quân [[Pháp]] quay trở lại [[Việt Nam]] cũng như không muốn sáp nhập quân đội vào biên chế Vệ quốc đoàn dưới sự chỉ huy của Bộ Quốc phòng do Việt Minh kiểm soát do lo sợ bị khống chế rồi bị giải tán dần đã lần lượt rút khỏi chính phủ Liên hiệp.<ref>[http://lmvn.com/truyen/index.php?func=viewpost&id=c6j6GAnIk1u39gHBrZ4ou5OJb8b4i3nB&ssid=3300 Việt Nam, một thế kỷ qua], Chương 30, Nguyễn Tường Bách, Nhà xuất bản Thạch Ngữ, California, 1998</ref> Ngày 19/6/1946, Báo Cứu Quốc của Tổng bộ [[Việt Minh]] đăng xã luận kịch liệt chỉ trích ''"bọn phản động phá hoại Hiệp định Sơ bộ Pháp-Việt mùng [[6 tháng 3]]"''. Ngay sau đó, [[Võ Nguyên Giáp]] bắt đầu chiến dịch trấn áp tất cả các đảng phái đối lập được [[Việt Minh]] coi là nguy hiểm như Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskist, lực lượng chính trị Công giáo... bằng lực lượng công an và quân đội do [[Việt Minh]] kiểm soát với sự giúp đỡ của nhà cầm quyền [[Pháp]]. Ông cũng sử dụng các sĩ quan [[Nhật Bản]] trốn tại Việt Nam và một số vũ khí do Pháp cung cấp cho chiến dịch này.<ref name="Currey">''Chiến thắng bằng mọi giá'', trang 196-197, Cecil B. Currey, Nhà Xuất bản Thế giới, 2013.</ref> Một trong những sự kiện nổi tiếng nhất trong chiến dịch tiêu diệt các đảng phái đối lập là [[vụ án phố Ôn Như Hầu]]. Trong vụ án này, Công an khám xét trụ sở [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] và [[Đại Việt Quốc dân đảng|Đại Việt Quốc dân Đảng]] với lý do hai đảng này âm mưu đảo chính nhằm lật đổ [[Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]]. Các thành viên [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] và [[Đại Việt Quốc dân đảng|Đại Việt Quốc dân Đảng]] có mặt tại trụ sở cũng bị bắt trong đó có đại biểu của Việt Nam Quốc dân Đảng trong [[Quốc hội Việt Nam khóa I]] là [[Phan Kích Nam]]. Sau sự kiện này các lãnh đạo [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] và [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội]], từng tham gia Chính phủ, đã lưu vong sang [[Trung Quốc]].
[[Tập tin:Vietnam France modus vivendi.JPG|nhỏ|300px|Hồ Chí Minh và [[Marius Moutet]] bắt tay sau khi ký Tạm ước Việt – Pháp.]]
[[Hội nghị Fontainebleau 1946|Hội nghị Fontainebleau]] thất bại vì phía [[Pháp]] chần chừ không ấn định chắc chắn thời điểm và cách thức thực hiện cuộc trưng cầu dân ý ở [[Nam Kỳ]] về việc sáp nhập Nam Kỳ vào [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] theo yêu cầu của phái đoàn [[Việt Nam]].<ref>Hồi ký 1925-1964, tập 2: 1945 - 1954, trang 353, Nguyễn Kỳ Nam, Nhật báo Dân Chủ Mới, 1964.</ref> Phái đoàn Việt Nam do [[Phạm Văn Đồng]] dẫn đầu về nước nhưng Hồ Chí Minh vẫn nán lại Pháp ký Tạm ước với [[Pháp]]. Ngày [[14 tháng 9]] năm [[1946]], Hồ Chí Minh ký với đại diện chính phủ Pháp, Bộ trưởng Thuộc địa [[Marius Moutet]], bản [[Tạm ước Việt - Pháp]] (''Modus vivendi''). Trong bản Tạm ước này, hai bên [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] và [[Pháp]] cùng bảo đảm với nhau về quyền tự do của kiều dân, chế độ tài sản của hai bên; thống nhất về các vấn đề như: hoạt động của các trường học Pháp, sử dụng đồng bạc [[Đông Dương]] làm tiền tệ, thống nhất thuế quan và tái lập cải thiện giao thông liên lạc của [[Liên bang Đông Dương]], cũng như việc thành lập ủy ban tạm thời giải quyết vấn đề ngoại giao của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cam kết ưu tiên dùng [[người Pháp]] làm cố vấn hoặc chuyên môn, và hai bên đã đồng ý chấm dứt mọi hành động xung đột, vũ lực cũng như tuyên truyền chống đối nhau, phóng thích tù nhân chính trị, bảo đảm không truy bức người của bên kia, và hợp tác để những kiều dân hai bên không làm hại nhau. Tạm ước cam kết sẽ có một nhân vật do [[Việt Nam]] chỉ định và [[Chính phủ [[Pháp]] công nhận được ủy nhiệm cạnh thượng sứ để xếp đặt cộng tác thi hành những điều thỏa thuận này. Cuối cùng, Chính phủ hai bên sẽ sớm tiếp tục đàm phán (chậm nhất là vào tháng 1 năm [[1947]]) để tìm cách ký kết những bản thỏa thuận riêng nhằm dọn đường cho một hiệp ước chung dứt khoát.<ref>Ban nghiên cứu lịch sử Đảng, Văn kiện Đảng (1945-1954), Nhà Xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1978, trang 256-260.</ref><ref>Hồ Chí Minh. Toàn tập - Tập 4, [[Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật|Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia]], Hà Nội, 2000, trang 328-330.</ref>
 
Thế nhưng. những nhân nhượng đó cũng không tránh khỏi chiến tranh. Cuối tháng 12/1946, quân [[Pháp]] gửi 3 tối hậu thư trong vòng chưa đầy một ngày đòi chínhChính phủ [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] phải đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị vũ trang, tước vũ khí của Tự vệ tại [[Hà Nội]], và trao cho quân đội [[Pháp]] việc duy trì an ninh trong thành phố. Không thể chấp nhận những yêu cầu mang tính tước đoạt chủ quyền Việt Nam của quân Pháp, ông ký lệnh kháng chiến. Tối ngày [[19 tháng 12]] năm [[1946]], [[Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến]] do Hồ Chí Minh chấp bút được phát trên đài phát thanh. 20h tối cùng ngày, kháng chiến bùng nổ.
 
====Giai đoạn kháng chiến chống Pháp====