Khác biệt giữa các bản “Cách cách”

n
n
 
=== Trình tự phong tước ===
Đời Thanh, Tông Thất nữ cũng như Hoàng nữ, đại đa số chỉ có khi kết hôn mới án theo đó mà phong tước. Cụ thể lưu trình, sau khi Cách cách đính hôn, đem thông tin hôn nhân của mình trình cấp [[Tông Nhân phủ]]. Trong tờ giấy ấy, ghi rõ xuất thân Cách cách, tước vị của phụ thân, thân phận của mẫu thân và tuổi tác của chính bản thân. Quá trình này được gọi là [''"Thỉnh phong"''; 请封].
 
Sau đó, Tông Nhân phủ y theo thành lệ, ban cho phê chuẩn, như vậy Cách cách đó mới chính thức có tước hiệu. Mặt khác, khi Tông Nhân phủ phê chuẩn cấp tước cho Cách cách, đồng thời cũng ban tước tương ứng cho Ngạch phò. Cho nên, Tông Thất nữ triều Thanh không hề tồn tại trường hợp chưa gả chồng mà có tước, ngược lại thì Hoàng nữ có vài ngoại lệ (như [[Cố Luân Hòa Kính Công chúa]]). Dù vậy, con gái Thân vương dù sao cũng sẽ là ''"Quận chúa"'', nên trong truyền miệng vẫn có nhiều trường hợp gọi trước tước vị dù họ chưa được phong (cung đình cũng tương tự, gọi theo số đếm như ''Tam công chúa'', ''Tứ công chúa'' vậy).
 
Suốt triều Thanh cũng có một số quy định về tước vị Tông Thất nữ:
* '''Khang Hi nguyên niên''' ([[1662]]): Tôn thất vương công dưỡng nữ, thụ phong không thể án theo tước của cha nuôi, chỉ ban dựa theo tước của cha ruột.
* '''Năm Khang Hi thứ 36''' ([[1697]]): Tôn thất vương công chi nữ sau khi phong tước, giả như phụ thân có việc gì mà được thăng tước hay bị giáng tước, cũng không ảnh hưởng đến tước vị của Cách cách ấy.