Khác biệt giữa các bản “Hoàng Cao Khải”

(theloai)
Nguyên danh của ông là '''Hoàng Văn Khải''', tự '''Đông Minh''', hiệu '''Thái Xuyên''', quê ở làng Đông Thái (nay thuộc xã Tùng Ảnh), huyện La Sơn (nay là huyện [[Đức Thọ]]), tỉnh [[Hà Tĩnh]]. Đỗ [[Hương cống|cử nhân]] ân khoa [[1868]] (cùng khóa thi với anh ông [[Phan Đình Phùng]] tên là Phan Đình Thuật, [[Phan Đình Phùng]] năm [[1876]] mới đậu ở Trường Thi, [[Nghệ An]]) năm [[Tự Đức]] thứ 21 ([[1868]]), cùng được bổ làm huấn đạo huyện [[Thọ Xương]], sau làm giáo thụ ở phủ [[Hoài Đức]] ([[Hà Tây]]). Trước khi Pháp chiếm [[Bắc Kỳ,]] ông lần lượt giữ các chức vụ Tri huyện Thọ Xương rồi thăng quyền Án sát [[Lạng Sơn]], quyền Tuần phủ [[Hưng Yên]].
 
Năm [[1884]], Pháp chiếm [[Bắc Kỳ]], trong khi các phòngphong trào chống Pháp nổi dậy thì ông lại hợp tác với Pháp để đàn áp các phong trào nghĩa quân chống Pháp. [[Tháng một|Tháng 1]] năm [[1887]], quyền Tuần phủ Hưng Yên, Hoàng Cao Khải được vua [[Đồng Khánh]] cho thực thụ Tuần phủ, gia hàm Thự lý Tổng đốc, nhưng vẫn lãnh Tuần phủ kiêm Tiễu phủ sứ ba tỉnh [[Hải Dương]], [[Bắc Ninh]], Hưng Yên, đặc biệt tham gia đàn áp khốc liệt cuộc [[khởi nghĩa Bãi Sậy]].
 
Năm [[1888]], ông được thăng làm Tổng đốc [[Hải Dương]], rồi làm Khâm sai Kinh lược [[Bắc Kỳ]], tước '''Duyên Mậu quận công''' (1890), đây là biệt lệ vì quan lại triều Nguyễn chỉ được phong [[quận công]] khi đã mất, ban cho thực ấp [[Thái Hà]]. Năm [[1894]], theo lệnh của [[toàn quyền Đông Dương|toàn quyền]] [[Jean-Marie de Lanessan|De Lanessan]], ông viết thư dụ hàng [[Phan Đình Phùng]], nhưng bị cự tuyệt.