Mở trình đơn chính

Các thay đổi

===Tây Sơn khởi nghĩa===
[[Tập tin:Groupofpeople0en.jpg|nhỏ|230px|trái|Một nhóm người [[Đàng Trong]] tại [[Đà Nẵng|Tourane]] (tức [[Đà Nẵng]]) thời Tây Sơn - Tranh của họa sĩ người Anh [[William Alexander]].]]
Năm Tân Mão, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32, Ðịnh Vương Nguyễn Phúc Thuần thứ 6, tức năm [[1771]], Nguyễn Nhạc được các người cùng hợp tác và các nhân sĩ đồng bào địa phương tôn làm Tây Sơn Vương.
Khởi phát từ ấp [[Tây Sơn, Bình Định|Tây Sơn]], ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ tập hợp lực lượng, ban đầu chủ yếu là [[người Thượng]], đứng lên khởi nghĩa. Lấy danh nghĩa chống lại Quốc phó [[Trương Phúc Loan]], ủng hộ Hoàng tôn [[Nguyễn Phúc Dương]] là cháu đích tôn của Vũ vương [[Nguyễn Phúc Khoát]], [[Nguyễn Nhạc]] phất cờ nổi dậy năm [[1771]].
 
Lấy danh nghĩa chống lại Quốc phó [[Trương Phúc Loan]], ủng hộ Hoàng tôn [[Nguyễn Phúc Dương]] là cháu đích tôn của Vũ vương [[Nguyễn Phúc Khoát]].
 
Bởi Tây Sơn mang danh nghĩa ủng hộ Hoàng tôn Dương và khi đánh trận thường la ó ầm ĩ nên dân gian có câu:
:''"Binh triều là binh Quốc phó''
:''Binh ó là binh Hoàng tôn"''
 
Nguyễn Nhạc tổ chức lại cơ sở:
 
- Quân sự giao cho Nguyễn Huệ, Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Võ Ðình Tú.
 
- Kinh tế tài chánh giao cho Nguyễn Thung, Bùi Thị Xuân và Nguyễn Lữ.
 
- Dân sự (hành chánh, ngoại giao, tuyên truyền...) giao cho Võ Xuân Hoài và Trương Mỹ Ngọc.
 
Nguyễn Nhạc và bộ tham mưu nhận thấy địa thế Tây Sơn Hạ không được an toàn, bèn dời tổng hành dinh và các cơ quan trọng yếu lên Tây Sơn Trung. Lấy dãy núi ở dưới đèo An Khê làm mật khu.
 
Nguyễn Nhạc cùng bộ tham mưu đóng ở hòn núi cao nhất nằm phía nam chân đèo, Nguyễn Huệ cùng Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đóng tại hòn núi phía bắc. Do đó mà hai ngọn núi này mang tên là núi Ông Bình và núi Ông Nhạc.
 
Khu kinh tế tài chính vẫn đóng ở Tây Sơn Hạ. Và những nơi đã được khai khẩn tiếp tục tăng gia sản xuất. Trường trầu vẫn phát triển đều đặn. Các phú gia ở khắp Tuy Viễn nhiệt liệt ủng hộ. Kho lẫm được canh coi chu đáo. Tiền, lúa nhiều nhưng không hề bị thâm lạm.
 
Tháng giêng năm Nhâm Thìn (1772), chúa Nguyễn sai Chưởng cơ Tôn Thất Văn đi tuyển xét ở Quy Nhơn. Báo cáo về việc Tây Sơn lập 6 đồn trên vùng Thượng đạo từ năm trước (1771). Nghe tin Nguyễn Nhạc bị truy nã gắt gao vì thâm lạm công quỹ, chạy vào núi chiêu tập bọn vong mạng định làm giặc, viên tuần phủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên cho quân lính đi lùng bắt. Nhưng nhiều lần quan quân đến Tây Sơn Hạ thấy nhân dân làm ăn yên ổn, không thấy dấu vết của giặc đâu cả, Tuyên cho là tin đồn nhảm, nên thôi đem quân càn quét vùng Tây Sơn.
 
Đầu tháng 4 năm 1773, quân Tây Sơn đã kéo nhau từng toán xuống các chợ ngay lúc ban ngày, lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo, đe dọa đốt nhà cửa để bắt người tuân theo. Họ họp từng nhóm khoảng 300 người, riêng vùng Đồng Hươu, Đồng Hào có đến 600 người và họ quấy nhiễu suốt ở Phú Yên, Quy Nhơn.
 
Tổ chức của họ cứ theo thắng lợi mà trở thành lớn lao, có quy củ hơn. Lúc đầu họ võ trang giáo mác, cung tên và cả súng tay nữa. Họ đi bộ, nhưng sau đó, khoảng tháng 8, họ đi ngựa, cáng và võng. Để bày tỏ vị trí phương nam và tính cách bạo động của quân khởi nghĩa, họ mang mỗi đội một lá cờ đỏ dài độ 9 aunes (khoảng 1m)
 
Tháng 5 năm 1773, Lòng dân địa phương lại hướng hoàn toàn về Nguyễn Nhạc. Viên tri huyện Tuy Viễn không hay biết chi cả. Nhưng vì biện lại đồn Tây Sơn (có tên là Vân Ðồn) không chịu nạp thuế trong hai năm liền, viên tri huyện sai Ðốc Trung Ðằng đem quân lên vấn tội. Ðốc Trung Ðằng bị quân Tây Sơn chặn lại đòi giấy tờ, tiền bạc, đâm cho một nhát ở vai trái phải cùng lính hầu bỏ chạy.
 
NămThanh [[1773]]thế lớn lên, Nguyễn Nhạc dời quân xuống Kiên Thành tự xưng làm Đệđệ nhất trại chủ, cai quảncoi hai2 huyện Phù Ly, Bồng Sơn, cho Nguyễn Thung xưnglàm là Đệđệ nhị trại chủ coi Tuy Viễn, Huyền Khê xưnglàm Đệđệ tam trại chủ, coi việc quân lương.
 
Tháng 8 năm Quý Tỵ (1773), Mọi việc an bài, Nguyễn Nhạc lập đàn cáo Trời Ðất, hợp thức hóa danh vị chức chưởng của chúa tôi và tế cờ xuất quân. Rồi tấn công huyện lỵ Tuy Viễn.
 
Quân Tây Sơn phát triển nhanh nhờ có được sự ủng hộ rất lớn của dân chúng quanh vùng, nhất là những người nông dân nghèo bị bần cùng hóa bởi tình trạng địa chủ chiếm đất và sưu cao thuế nặng của [[Chúa Nguyễn]]. Quân ngũ Tây Sơn khi dựng nghiệp có khoảng 150.000 người được chia thành 12 đơn vị, trong đó có 2 đơn vị là người dân tộc thiểu số. Đây là đội quân tiên phong, dũng mãnh dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ. Kỵ binh có hơn 2.000 chiến mã, tượng binh có hơn 100 thớt voi.
:''"Ban ngày họ xuống các chợ, kẻ đeo gươm, người mang cung tên, có người mang súng. Họ không hề làm thiệt hại đến người và của. Trái lại họ tỏ ra muốn bình đẳng giữa mọi người [[Đàng Trong]]; họ vào nhà giàu, nếu đem nộp họ ít nhiều thì họ không gây tổn hại, nhưng nếu chống cự lại thì họ cướp lấy những của quý đem chia cho người nghèo; họ chỉ giữ gạo và lương thực cho họ mà thôi... Người ta gọi họ là bọn cướp đạo đức và nhân từ đối với quần chúng nghèo khổ..."'' <ref>Nguyễn Lương Bích - Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr. 33.</ref>
 
Ðược tin Tuy Viễn đã vào tay nghĩa quân rồi. Trần Quang Diệu liền chia đại binh mình chỉ huy ra làm ba đội. Một đội giao cho Lê Văn Hưng ở lại hậu phương. Một giao cho Võ Văn Dũng cùng Cao Tắc Tựu đi đánh Bồng Sơn, còn mình lãnh một đạo đi đánh Phù Ly cùng La Xuân Kiều. Bồng Sơn và Phù Ly, nghĩa quân kéo đến, chưa đánh đã lấy được. Quân cũng như dân của hai huyện đều hân hoan đón tiếp nghĩa binh. Trần Quang Diệu để Võ Văn Dũng cùng hai học sĩ Cao, La ở lại giữ huyện lỵ hai nơi, còn mình thì đem quân vào hợp với Tây Sơn Vương đánh thành Quy Nhơn.
Những năm đầu tiên, lực lượng của nghĩa quân còn yếu, nhưng được sự giúp đỡ của nhân dân quanh vùng. Bấy giờ có người trí thức là [[Huyền Khê]] dâng tiền giúp, phú nông là [[Nguyễn Thung]] ra sức khuyến dụ mọi người gia nhập nghĩa quân.
 
Tháng 9 năm Quý Tỵ (1773), quân Tây Sơn dùng mưu đánh chiếm được thành [[Quy Nhơn]].
Năm [[1773]], Nguyễn Nhạc tự xưng là Đệ nhất trại chủ, cai quản hai huyện Phù Ly, Bồng Sơn, Nguyễn Thung xưng là Đệ nhị trại chủ, Huyền Khê xưng Đệ tam trại chủ, coi việc quân lương.
 
NămThành [[1773]]Quy Nhơn ở giữa Tuy Viễn và Phù Ly. Tường xây bằng đá ong, trên một giải gò cao, chung quanh có hào sâu bao bọc, thế rất vững. Vì vậy nên quân Tây Sơn dùng mưuvây đánh chiếmđã ba ngày mà không lấy được. Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên đóng cửa thành [[Quycố Nhơn]]thủ. Tương truyền Nguyễn Nhạc tự ngồi vào cũi cho quân lính của mình khiêng đến trá hàng, nộp quân họ Nguyễn. Nửa đêm, ông phá cũi, cùng quân trá hàng làm nội ứng và quân bên ngoài tới phối hợp đánh chiếm thành. Thành này là nơi các nhà buôn, vì đã phải chịu nhiều luật lệ ngăn cấm do triều đình họ Nguyễn đưa ra, đã quay sang ủng hộ tài chính cho Tây Sơn.
Sau khi đứng vững ở địa bàn ấp Tây Sơn, năm sau, cuộc khởi nghĩa lan rộng và nghĩa quân đã thắng một số trận chống lại quân [[chúa Nguyễn]] được phái tới trấn áp cuộc khởi nghĩa.
 
Sau khi hạ thành Quy Nhơn, Tây Sơn Vương giao thành cho Trần Quang Diệu và các tướng đóng giữ, tự mình đem hai quân đoàn xuống Càng Rang, Nước Ngọt, đánh lấy hai kho lương thực. Hai viên quan giữ kho là Ðốc Trưng Ðằng và Khâm Sai Lượng chống cự. Lượng bị giết, Ðằng tẩu thoát. Vương cho chở hết lương thực về thành Quy Nhơn.
Năm [[1773]] quân Tây Sơn dùng mưu đánh chiếm được thành [[Quy Nhơn]]. Tương truyền Nguyễn Nhạc tự ngồi vào cũi cho quân lính của mình khiêng đến trá hàng, nộp quân họ Nguyễn. Nửa đêm, ông phá cũi, cùng quân trá hàng làm nội ứng và quân bên ngoài tới phối hợp đánh chiếm thành. Thành này là nơi các nhà buôn, vì đã phải chịu nhiều luật lệ ngăn cấm do triều đình họ Nguyễn đưa ra, đã quay sang ủng hộ tài chính cho Tây Sơn.
 
Sau khi hạ thành Quy Nhơn, quânQuân Tây Sơn nhanh chóng đánh xuống phía nam, kiểm soát vùng đất từ [[Quảng Ngãi]] đến [[Bình Thuận]].
 
===Quân Trịnh tham chiến===
Năm [[1774]], chúa Nguyễn sai [[Nguyễn Cửu Thông]] đem quân đánh Tây Sơn, bị Nguyễn Nhạc đánh bại. Mùa hè năm đó, chúa sai [[Tống Phước Hiệp|Tống Phúc Hiệp]] đem quân từ Hòn Khói ([[Nha Trang]]) đánh lên. Tây Sơn phải lui về giữ [[Phú Yên]].
 
Họ Nguyễn, khi cuối cùng đã nhận ra sự nguy hiểm của cuộc khởi nghĩa, đã ký hòa ước với người Xiêm, từ bỏ một số vùng họ đã chiếm được trong những thập kỷ trước đó. Tuy nhiên không vì thế mà họ Nguyễn được rảnh tay đánh Tây Sơn. Tháng 10 năm [[1774]], chúa [[Trịnh Sâm]], sau 100 năm giữ hòa bình với chúa Nguyễn, sai Quận Việp [[Hoàng Ngũ Phúc]] ([[1713]]-[[1776]]), một viên tướng lão luyện, mang 4 vạn quân vào nam tấn công Phú Xuân ([[Huế]]), cũng lấy danh nghĩa trừng phạt [[Trương Phúc Loan]]. Mặc dù chúa [[Nguyễn Phúc Thuần]] buộc phải trói Loan nộp cho Hoàng Ngũ Phúc nhưng rồi quân Trịnh vẫn tiến. Quân Nguyễn không chống nổi, quân Trịnh chiếm thành [[Phú Xuân]], buộc họ Nguyễn phải bỏ chạy về [[Quảng Nam]]. Nhưng tại đây chúa Nguyễn lại bị Tây Sơn đánh ra uy hiếp, bắt được Hoàng tôn Dương. Chúa Nguyễn cùng thế phải vượt biển trốn vào Gia Định (tức [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]]).
 
Tháng 10 năm [[1774]], chúa [[Trịnh Sâm]], sau 100 năm giữ hòa bình với chúa Nguyễn, sai Quận Việp [[Hoàng Ngũ Phúc]] ([[1713]]-[[1776]]), một viên tướng lão luyện, mang 4 vạn quân vào nam tấn công Phú Xuân ([[Huế]]), cũng lấy danh nghĩa trừng phạt [[Trương Phúc Loan]]. Mặc dù chúa [[Nguyễn Phúc Thuần]] buộc phải trói Loan nộp cho Hoàng Ngũ Phúc nhưng rồi quân Trịnh vẫn tiến. Quân Nguyễn không chống nổi, quân Trịnh chiếm thành [[Phú Xuân]], buộc họ Nguyễn phải bỏ chạy về [[Quảng Nam]]. Nhưng tại đây chúa Nguyễn lại bị Tây Sơn đánh ra uy hiếp, bắt được Hoàng tôn Dương. Chúa Nguyễn cùng thế phải vượt biển trốn vào Gia Định (tức [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]]).
 
Tháng 5 năm [[1775]], Tống Phước Hiệp tiến quân ra Phú Yên đánh Tây Sơn, Nguyễn Nhạc mất Phú Yên, chỉ còn giữ Quy Nhơn và Quảng Ngãi.
231

lần sửa đổi