Khác biệt giữa các bản “Giải phẫu học”

Hiệu đính và thêm ảnh cho bài viết
(Hiệu đính và thêm ảnh cho bài viết)
Từ "anatomy" (giải phẫu) trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp ''anatomē'' nghĩa là "mổ xẻ". Về từ nguyên, ἀνατέμνω (''anatémnō'', nghĩa là "Tôi cắt tách và mở ra"), trong đó ἀνά (''aná'', "tách"), và τέμνω (''témnō'', "tôi cắt").<ref>O.D.E. 2nd edition 2005</ref>{{sfn|Trịnh Văn Minh tập 1|2017|p=13}} Giải phẫu học là bộ môn nghiên cứu khoa học về các hệ thống, cơ quan và [[mô]] của [[Sinh vật|sinh vật]]. Điều này bao gồm cả mô tả về hình dạng và vị trí của các bộ phận khác nhau, "thành phần" cấu tạo nên bộ phận đó cũng như mối quan hệ giữa các bộ phận đó với các bộ phận khác. Giải phẫu là bộ môn khá đặc thù nếu so sánh với [[Sinh lý học|sinh lý học]] và [[hóa sinh]], là hai bộ môn lần lượt nghiên cứu về chức năng cũng như các quá trình hóa học của một bộ phận nào đó. Ví dụ, một nhà giải phẫu sẽ quan tâm đến hình dạng, kích thước, vị trí, cấu trúc, nguồn cung máu và các dây thần kinh của một cơ quan, chẳng hạn như [[gan]]; trong khi đó, một nhà sinh lý học lại quan tâm đến việc tiết [[mật]], vai trò của gan trong dinh dưỡng và điều hòa các chức năng cơ thể.<ref name="Everyman">{{cite book|title=Everyman's Encyclopedia: Anatomy|editor-last=Bozman|editor-first=E. F.|year=1967|publisher=J. M. Dent & Sons|asin=B0066E44EC|page=272}}</ref>
 
Giải phẫu học được chia thành một số phân ngành nhỏ hơn như [[giải phẫu vĩ mô]] (giải phẫu thô) và [[giải phẫu vi mô]] (giải phẫu hiển vi).<ref>{{cite web|url=http://medical-dictionary.thefreedictionary.com/microscopic+anatomy|title=Anatomy|year=2007|work=The Free Dictionary|publisher=Farlex|accessdate=ngày 15 tháng 9 năm 2019}}</ref> Giải phẫu vĩ mô nghiên cứu về các cấu trúc đủ lớn để có thể thấy bằng mắt thường. [[Giải phẫu bề mặt]] cũng được xếp vào giải phẫu vĩ mô, phân ngành này chuyên nghiên cứu các đặc điểm cơ thể có thể nhìn thấy ở bên ngoài mà không mổ vào bên trong. Giải phẫu vi mô (bộ môn mô - phôi) là nghiên cứu về các cấu trúc ở cấp độ hiển vi. [[Mô học]] (nghiên cứu về mô) và [[Phôi thai học|phôi học]] (nghiên cứu về [[phôi]]) cũng được xếp vào nhóm ngành này.<ref name="intro HGray" />
 
Giải phẫu có thể được nghiên cứu bằng cả phương pháp xâm lấn và không xâm lấn với mục đích là thu được thông tin về cấu trúc và tổ chức của các cơ quan và hệ thống.<ref name="intro HGray" /> Phương pháp được sử dụng có thể kể đến như [[phẫu tích]] (hay mổ xẻ), tức là ta sẽ "mở" cơ thể sinh vật và nghiên cứu các cơ quan. Một phương pháp khác là [[Nội soi|nội soi]], sử dụng một dụng cụ có gắn máy quay và đưa vào cơ thể qua một vết mổ nhỏ, những hình ảnh thu được sẽ cho ta thông tin về các cơ quan nội tạng cũng như các cấu trúc khác. [[Chụp động mạch]] bằng tia X hoặc [[Chụp mạch cộng hưởng từ|chụp mạch cộng hưởng từ]] là phương pháp để thu được hình ảnh cho các [[Mạch máu|mạch máu]].<ref>{{cite journal|title=Use of Angiography to Outline the Cardiovascular Anatomy of the Sand Crab Portunus pelagicus Linnaeus|vauthors=Gribble N, Reynolds K|journal=Journal of Crustacean Biology|year=1993|volume=13|issue=4|pages=627–637|doi=10.1163/193724093x00192|jstor=1549093}}</ref><ref>{{cite journal|title=Characterization of the Renal Portal System of the Common Green Iguana (Iguana iguana) by Digital Subtraction Imaging|vauthors=Benson KG, Forrest L|journal=Journal of Zoo and Wildlife Medicine|year=1999|volume=30|issue=2|pages=235–241|pmid=10484138}}</ref><ref>{{cite web|url=http://www.hopkinsmedicine.org/healthlibrary/test_procedures/cardiovascular/magnetic_resonance_angiography_mra_135,14/|title=Magnetic Resonance Angiography (MRA)|publisher=Johns Hopkins Medicine}}</ref><ref>{{cite web|url=https://www.nhs.uk/conditions/angiography/|title=Angiography|publisher=National Health Service|accessdate=15 Sep 2019}}</ref>
 
==Mô động vật==
[[Tập tin:Anima_cell_notext.svg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Anima_cell_notext.svg|phải|nhỏ|Thiết đồ cắt của một tế bào động vật (chứacó cả lông roi)|275x275px262x262px]]
[[Giới (sinh học)|Giới]] [[Động vật]] gồm các [[sinh vật đa bào]], sống [[Sinh vật dị dưỡng|dị dưỡng]] và có thể vận động (dù trong tiến hóa, một số loài đã không còn khả năng này, chẳng hạn như [[san hô]]). Hầu hết các động vật có cơ thể được biệt hóa thành các mô riêng biệt, những động vật này còn được gọi là [[eumetazoa]]. Chúng có một khoang [[tiêu hóa]] nằm trong cơ thể, với một hoặc hai lỗ mở ra ngoài; [[giao tử]] được tạo ra tại cơ quan sinh dục đa bào và có giai đoạn phôi nang trong quá trình phát triển từ hợp tử của mình. Lưu ý, [[Động vật thân lỗ|ngành Thân lỗ]] (chẳng hạn như bọt biển) không được xếp vào [[giới Động vật]], do chúng có các tế bào chưa được biệt hóa.<ref name="Dorit549">{{cite book|title=Zoology|last1=Dorit|first1=R. L.|last2=Walker|first2=W. F.|last3=Barnes|first3=R. D.|year=1991|publisher=Saunders College Publishing|isbn=978-0-03-030504-7|pages=547–549}}</ref>
 
Không giống như [[tế bào thực vật]], [[tế bào động vật]] không có thành tế bào hay [[lục lạp]]. Nếu tế bào động vật có không bào thì có số lượng bào quan này nhiều hơn nhưng có kích thước nhỏ hơn so với ở thực vật. Các mô cơ thể gồm có nhiều loại tế bào, tính cả những loại tế bào được tìm thấy ở [[Cơ (sinh học)|cơ]], [[dây thần kinh]] và [[da]]. Mỗi loại tế bào thường có màng tế bào cấu tạo từ [[phospholipid]], [[tế bào chất]] và [[Nhân tế bào|nhân]]. Tất cả các tế bào khác nhau của động vật đều có nguồn gốc từ các [[lá phôi]]. Những động vật không xương sống với cấu trúc đơn giản hơn được phát triển từ [[phôi hai lá]] (gồm lá phôi ngoài và lá phôi trong). Những động vật phức tạp hơn lại có cấu trúc và cơ quan được hình thành từ [[phôi ba lá]]. Tất cả các mô và cơ quan của những động vật này đều có nguồn gốc từ ba lá phôi gồm [[lá phôi ngoài]], [[lá phôi giữa]] và [[lá phôi trong]].<ref name="Ruppert60">{{cite book|title=Invertebrate Zoology, 7th edition|last1=Ruppert|first1=Edward E.|last2=Fox|first2=Richard, S.|last3=Barnes|first3=Robert D.|year=2004|publisher=Cengage Learning|isbn=978-81-315-0104-7|pages=59–60}}</ref>
=== Biểu mô ===
[[Tập tin:Normal_gastric_mucosa_low_mag.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Normal_gastric_mucosa_low_mag.jpg|phải|nhỏ|Hình ảnh phóng đại thấp [[màng nhầy dạ dày]] (nhuộm bằng [[phương pháp H.E]])|200x200px]]
[[Biểu mô]] hay mô biểu bì gồm các tế bào được xếp ken chặt với nhau, liên kết với nhau bởi các [[phân tử kết dính tế bào]]. Khoảng không gian giữa các tế bào với nhau là rất nhỏ. Các tế bào của biểu mô có thể có dạng [[Biểu mô dẹt|dẹt]] (giống gạch lát sàn nhà), dạng khối (giống viên xúc xắc) hoặc dạng cột (giống hình viên gạch). Các tế bào này được xếp trên [[Lá đáy|phiến nền]] (''basal lamina''). Phiến nền là lớp phía trên của lớp màng nền, còn lớp phía dưới của màng nền là phiến lưới.<ref>{{cite book|last=Dorland's|title=Illustrated Medical Dictionary|date=2012|publisher=Elsevier Saunders|isbn=978-1-4160-6257-8|page=203}}</ref> Phiến lưới nằm cạnh mô liên kết trong chất nền ngoại bào được tiết ra bởi tế bào biểu mô.<ref>{{cite book|last=Dorland's|title=Illustrated Medical Dictionary|date=2012|publisher=Elsevier Saunders|isbn=978-1-4160-6257-8|page=1002}}</ref> Có nhiều loại biểu mô khác nhau, mỗi loại được biến đổi để phù hợp với chức năng cụ thể. Chẳng hạn, [[đường hô hấp]] được lót bởi một loại biểu mô có các lông rung; các tế bào biểu mô với các lông siêu nhỏ (còn gọi là [[riềm bàn chải]]) lót ở [[ruột non]] và biểu mô lót trong [[ruột già]] có các [[lông ruột]]. [[Da]], lớp phủ bên ngoài cơ thể ở [[động vật có xương sống]], được cấu tạo nhiều lớp biểu mô dẹt với phần bên ngoài được [[sừng hóa]]. [[Tế bào sừng]] chiếm tới 95% tổng số tế bào trong da.<ref>McGrath, J.A.; Eady, R.A.; Pope, F.M. (2004). Rook's Textbook of Dermatology (7th ed.). Blackwell Publishing. tr. 31–36. {{ISBN|978-0-632-06429-8}}.</ref> Các tế bào biểu mô ở phía mặt bên ngoài của cơ thể thường tiết ra [[chất nền ngoại bào]]. Ở các động vật đơn giản, chất nền chỉ là một lớp [[glycoprotein]].<ref name="Ruppert60" /> Ở những động vật tiến hóa hơn, nhiều [[tuyến]] được hình thành từ các tế bào biểu mô.<ref>{{cite web|url=https://www.bio.davidson.edu/people/kabernd/BerndCV/Lab/EpithelialInfoWeb/Glandular%20Epithelium.html|title=Glandular epithelium|author=Bernt, Karen|year=2010|work=Epithelial Cells|publisher=Davidson College|accessdate=15 Sep 2019}}</ref>
 
=== Mô cơ ===
 
[[Tập tin:Peripheral nerve, cross section.jpg|nhỏ|200x200px|Thiết đồ phóng đại cao cắt qua [[mô thần kinh]] ở [[hệ thần kinh ngoại biên]]]]
[[Mô thần kinh]] gồm các [[tế bào]] thần kinh ([[nơron]]) và các [[tế bào thần kinh đệm]] (thần kinh giao). Ở một số động vật biển hình thái đối xứng có khả năng di chuyển chậm như các động vật thuộc ngành [[Sứa lược]] và [[ngành Thích ty bào]] (bao gồm hải quỳ và sứa), thần kinh có dạng mạng lưới thần kinh. Ở hầu hết các động vật, dây thần kinh được hợp lại thành bó. Ở động vật bậc thấp, tế bào thần kinh thụ thể trong thành cơ thể gây ra phản ứng cục bộ với một kích thích. Ở động vật phức tạp hơn, các tế bào thụ thể chuyên biệt như [[hóa thụ thể]] (''chemoreceptor'') và [[quang thụ thể]] (''photoreceptor'') tập hợp lại và truyền đạt thông tin dọc theo mạng lưới thần kinh đến các vùng khác của cơ thể sinh vật. Các tế bào thần kinh kết nối với nhau trong [[hạch thần kinh]].<ref name="Ruppert104">{{cite book|title=Invertebrate Zoology, 7th edition|last1=Ruppert|first1=Edward E.|last2=Fox|first2=Richard, S.|last3=Barnes|first3=Robert D.|year=2004|publisher=Cengage Learning|isbn=978-81-315-0104-7|page=104}}</ref> Ở động vật bậc cao, các thụ thể chuyên biệt là cơ sở của các cơ quan iếptiếp nhận cảm giác. Các độngloài vật bậc caonày còn có cả [[hệ thần kinh trung ương]] ([[não]] và [[tủy sống]]) và [[hệ thần kinh ngoại biên]]. Hệ thần kinh ngoại biên gồm [[Nơron cảm giác|nhánh cảm giác]]: làm nhiệm vụ truyền thông tin từ cơ quan cảm giác khi tiếp nhận kích thích từ môi trường và [[Nơron vận động|nhánh vận động]] giúp chi phối vận động cho cơ quan đích, trả lời các kích thích đó.<ref>{{cite book|title=Grey's Anatomy: Descriptive and Applied|year=1944|edition=28|page=1038|publisher=Langmans|editor1-last=Johnston|editor1-first=T.B|editor2-last=Whillis|editor2-first=J}}</ref><ref name="Ruppert107">{{cite book|title=Invertebrate Zoology, 7th edition|last1=Ruppert|first1=Edward E.|last2=Fox|first2=Richard, S.|last3=Barnes|first3=Robert D.|year=2004|publisher=Cengage Learning|isbn=978-81-315-0104-7|pages=105–107}}</ref> Hệ thần kinh ngoại biên được chia thành [[hệ thần kinh soma]] truyền cảm giác và kiểm soát cơ vân, và [[hệ thần kinh tự chủ]] kiểm soát không ý thức hoạt động cơ trơn, một số tuyến, nội tạng, bao gồm [[dạ dày]].<ref>{{cite web|url=https://www.inkling.com/read/essential-clinical-anatomy-keith-moore-4th/introduction-to-clinical-anatomy/nervous-system|title=Essesntial Clinical Anatomy|publisher=Inkling|work=Nervous System|date=2010|edition=4th|accessdate=15 Sep 2019|author1=Moore, K.|author2=Agur, A.|author3=Dalley, A. F.}}</ref>
 
== Giải phẫu động vật có xương sống ==
[[Cá mập]] và [[cá đuối]] là các loài cá cơ sở trong [[cây phát sinh chủng loại]] với nhiều đặc điểm giải phẫu nguyên thủy tương tự như các loài cá cổ đại. Bộ xương cấu tạo từ sụn. Cơ thể có xu hướng phẳng dẹt, thường có năm cặp mang và một miệng lớn ở vị trí mặt dưới của vùng đầu. Da được bao phủ bởi các vây tia hình tấm riêng biệt. Cá có [[lỗ huyệt]], nơi đường tiết niệu và bộ phận sinh dục được bộc lộ, nhưng không có [[bong bóng cá]]. Cá sụn sản xuất một số lượng nhỏ trứng có kích thước lớn, có [[lòng đỏ]]. Một số loài có phương thức sinh sản [[noãn thai sinh]] (con non phát triển bên trong cơ thể mẹ) nhưng một số khác lại đẻ trứng.<ref name="Kotpal">{{cite book|title=Modern Text Book of Zoology: Vertebrates|last=Kotpal|first=R. L.|year=2010|publisher=Rastogi Publications|isbn=978-81-7133-891-7|page=193|url=https://books.google.com/books?id=U7N1j-8LMsEC&pg=PA199}}</ref>
 
Cá xương cho thấy các đặc điểm giải phẫu mang tính "dẫn xuất" hơn, tức là có nhiều thay đổi lớn mang tính tiến hóa từ các bộ phận trên cơ thể cá cổ đại. Chúng có bộ xương làm từ xương thật, cơ thể xu hướng phẳng theo chiều hai bên, có năm cặp mang được bảo vệ bởi một [[nắp mang]], miệng ở gần mũi. Da được bao bọc nhờ các lớp vảy xếp chồng lên nhau. Cá xương có [[bong bóng cá]] giúp cơ thể duy trì độ sâu không đổi trong cột nước, nhưng không có lỗ huyệt. Cá xương tưới ra lượng lớn trứng kích thước bé, lòng đỏ nhỏ vào cột nước.<ref name="Kotpal" />
 
=== Giải phẫu lưỡng cư ===
[[Động vật lưỡng cư|'''Động vật lưỡng cư''']] là một lớp động vật bao gồm [[Bộ Không đuôi|ếch]], [[Bộ Có đuôi|kỳ nhông]] và [[lưỡng cư không chân]] (caecilian). Đây là nhóm các [[Động vật bốn chân|động vật có tứ chi]], nhưng các loài lưỡng cư không chân và một vài loài kỳ nhông lại không có hoặc tiêu giảm kích thước của chân. Xương chính của các loài này rỗng, nhẹ và được [[hóa cốt]] (làm chắc) hoàn toàn; các đốt sống của chúng được lồng ghép với nhau và có các [[mối nối đốt sống]]. Xương sườn của động vật lưỡng cư thường ngắn và có thể được hợp nhất với đốt sống. Hộp sọ của những loài này thì thường rộng và ngắn, và thường không được làm cứng hoàn toàn. Da của chúng chứa ít [[keratin]] và không có vảy, nhưng lại chứa nhiều tuyến nhầy và ở một số loài là các [[tuyến chất độc]]. Tim của động vật lưỡng cư có ba ngăn, hai [[tâm nhĩ]] và một [[Tâm thất (tim)|tâm thất]]. Chúng cũng có [[bàng quang]] và chất thải chứa nitơ được bài tiết chủ yếu dưới dạng urê. Động vật lưỡng cư thở bằng phương pháp gọi là [[bơm khoang miệng]]: đầu tiên, nhờ sự phối hợp của các cơ, không khí sẽ được hút qua lỗ mũi vào khu vực [[khoang miệng]], các lỗ này sau đó được đóng lại và không khí được dồn xuống phổi nhờ quá trình co của cơ cổ họng.<ref>{{cite book|title=A Natural History of Amphibians|last1=Stebbins|first1=Robert C.|authorlink1=Robert C. Stebbins|last2=Cohen|first2=Nathan W.|year=1995|publisher=Princeton University Press|isbn=978-0-691-03281-8|pages=24–25}}</ref> Chính nhờ cách thở này, một số con ếch đực có thể tạo ra những tiếng kêu to rất đặc trưng, như ta hay nghe thấy vào mùa hè, bằng cách hít vào nhiều lần và không thở ra.<ref name="Dorit8592">{{cite book|title=Biology|last3=Reece|first3=Jane|year=2011|publisher=Pearson|isbn=978-0321558237|pages=920|location=|last=Campbell|first=Neil|last2=Urry}}</ref> Bên cạnh cách thở bằng phổi, lưỡng cư cũng có thể [[trao đổi khí]] qua da với điều kiện là da phải luôn được giữ ẩm.<ref name="Dorit859">{{cite book|title=Zoology|last1=Dorit|first1=R. L.|last2=Walker|first2=W. F.|last3=Barnes|first3=R. D.|year=1991|publisher=Saunders College Publishing|isbn=978-0-03-030504-7|pages=843–859}}</ref>
 
Ở ếch, xương chậu của chúng rất khỏe và chân sau dài và mạnh hơn nhiều so với chân trước. Bàn chân chúng có bốn hoặc năm chingón và các ngón chân thường có màng để bơi hoặc có màng hút để leo trèo. Ếch có đôi mắt to và không có đuôi. Kỳ giông thì có ngoại hình khá giống với thằn lằn; chân của chúng ngắn và được bố trí lệch, bụng của các loài này thì thõng xuống gần hoặc tiếp xúc với mặt đất và chúng có một cái đuôi dài. Lưỡng cư không chân có bề ngoài trông giống như [[giun đất]] và không có chi. Chúng đào hang bằng cách co các vùng cơ dọc theo cơ thể và chúng bơi bằng cách trườn cơ thể từ bên này sang bên kia.<ref>{{cite book|title=A Natural History of Amphibians|last1=Stebbins|first1=Robert C.|authorlink1=Robert C. Stebbins|last2=Cohen|first2=Nathan W.|year=1995|publisher=Princeton University Press|isbn=978-0-691-03281-8|pages=26–35}}</ref>
 
=== Giải phẫu bò sát ===
{{Bài chi tiết|Giải phẫu bò sát}}
 
[[Tập tin:Crotalus_atrox_-Museum_of_Osteology,_Oklahoma_City,_Oklahoma,_USA-29Aug2012.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Crotalus_atrox_-Museum_of_Osteology,_Oklahoma_City,_Oklahoma,_USA-29Aug2012.jpg|nhỏ|Bộ xương của một con [[Rắn chuông lưng đốm thoi miền đông|rắn đuôi chuông lưng đốm thoi]].|thế=|200x200px218x218px]]
'''[[Động vật bò sát]]''' là một lớp động vật bao gồm [[Bộ Rùa|rùa]], ''[[sphenodon]]'', [[thằn lằn]], [[rắn]] và [[cá sấu]]. Nhóm các loài này có bốn chân, nhưng rắn và một vài loài thằn lằn lại không có hoặc đã tiêu giảm kích thích chi đi rất nhiều. Xương của chúng được hóa cốt tốt hơn và xương của chúng cũng khỏe hơn xương của động vật lưỡng cư. Răng những loài này có hình nón và kích thước nhìn chung là khá đồng nhất. Các tế bào bề mặt của lớp biểu bì được biến đổi thành vảy sừng, tạo nên một lớp chống thấm cho cơ thể. Bò sát không thể sử dụng da để hô hấp như động vật lưỡng cư, bù lại, chúng có hệ hô hấp hiệu quả hơn để hút không khí vào phổi bằng cách mở rộng thành ngực. Tim của bò sát khá giống với lưỡng cư nhưng có thêm một vách ngăn giúp phân tách dòng máu giàu oxy hóa và máu nghèo oxy hiệu quả hơn. Hệ thống sinh sản đã phát triển theo hướng [[thụ tinh trong]], cơ quan sinh sản cũng có mặt ở hầu hết các loài. Trứng của chúng được bao quanh bởi một lớp [[màng ối]] giúp giữ ẩm. Bò sát thường đẻ trứng trên đất liền, một số loài thì sinh sản theo hình thức [[noãn thai sinh]] (tức là trứng đã nở thành thai trước khi đẻ). Các loài này có bàng quang nhỏ và dạng chất thải nitơ được bài tiết là [[axit uric]].<ref name="Dorit865">{{cite book|title=Zoology|last1=Dorit|first1=R. L.|last2=Walker|first2=W. F.|last3=Barnes|first3=R. D.|year=1991|publisher=Saunders College Publishing|isbn=978-0-03-030504-7|pages=861–865}}</ref>
[[Tập tin:Lialis burtonis wild shot.jpg|nhỏ|216x216px|Một con [[thằn lằn Burton]]. Những loài thằn lằn không chân rất dễ nhầm với [[rắn]] nếu chỉ nhìn vào ngoại hình thông thường. ]]
 
'''[[Bộ Rùa|Rùa]]''' là nhóm loài nổi bật với bộ "áo giáp" bảo vệ của mình. Cơ thể rùa được bọc bởi một lớp [[mai sừng]] ở trên và một [[tấm giáp]] phía dưới, cả hai đều cứng và không linh hoạt. Những phiến bảo vệ này được hình thành từ các tấm xương gắn với lớp hạ bì, được bao phủ bởi các lớp sừng và được hợp nhất một phần với xương sườn và cột sống. Cổ của rùa khá dài và linh hoạt, đầu và chân của chúng đều có thể rụt lại vào trong vỏ. Rùa là loài ăn thực vật, cấu trúc răng bò sát điển hình đã được thay bằng những phiến sắc nhọn, gồ ghề. Ở các loài rùa sống dưới nước, chân trước đã được biến đổi thành chân chèo.<ref name="Dorit868">{{cite book|title=Zoology|last1=Dorit|first1=R. L.|last2=Walker|first2=W. F.|last3=Barnes|first3=R. D.|year=1991|publisher=Saunders College Publishing|isbn=978-0-03-030504-7|pages=865–868}}</ref>
 
'''''[[Sphenodon]]''''' có ngoại hình trông giống như thằn lằn nhưng tổ tiên của hai chi này tách ra từ [[kỷ Tam Điệp]]. ''[[Sphenodon punctatus|Sphenodon puncatus]]'' là loài duy nhất thuộc chi này tồn tại. Hộp sọ có hai lỗ mở (''fenestrae'') nằm ở hai bên đầu và hàm gắn chặt vào hộp sọ. Khi nhai, một hàng răng ở hàm dưới khớp với hai hàng răng ở hàm trên. Răng chỉ đơn thuần cấu tạo từ xương xuyên qua hàm, có thể bị mài mòn. So với các loài bò sát khác, bộ não và tim kém tiến hóa hơn và phổi có một buồng duy nhất, không có [[phế quản]]. ''Sphenodon'' có một [[mắt thái dương]] nằm trên trán, rất phát triển.<ref name="Dorit868" />
 
'''''[[Sphenodon]]''''' có ngoại hình trông giống như thằn lằn nhưng tổ tiên của hai chi này tách ra từ [[kỷ Tam Điệp]]. ''[[Sphenodon punctatus|Sphenodon puncatus]]'' là loài duy nhất thuộc chi này tồn tại. Hộp sọ của chúng có hai lỗ mở (''fenestrae'') nằm ở hai bên đầu và hàm gắn chặt vào hộp sọ. Khi nhai, một hàng răng ở hàm dưới khớp với hai hàng răng ở hàm trên. Răng chỉ đơn thuần cấu tạo từ xương xuyên qua hàm, có thể bị mài mòn. So với các loài bò sát khác, bộ não và tim của chúng kém tiến hóa hơn và phổi có một buồng duy nhất, không có [[phế quản]]. ''Sphenodon'' có một [[mắt thái dương|mắt giữa]] nằm trên trán, rất phát triển.<ref name="Dorit868" />
[[Tập tin:Python natalensis Antelope South Africa.jpg|nhỏ|Trong ảnh là một con [[trăn đá châu Phi]] đang nuốt một con [[linh dương]]. Nhờ vào cấu trúc xương và cơ hàm đặc biệt, miệng của một số loài rắn có thể mở rộng một cách rất đáng kinh ngạc.]]
'''[[Thằn lằn]]''' có hộp sọ với chỉ một cửa sổ ở mỗi bên, thanh xương bên dưới của cửa sổ thứ hai đã bị tiêu biến. Điều này làm cho hàm của chúng linh hoạt hơn và cũng cho phép thằn lằn mở miệng rộng hơn. Thằn lằn chủ yếu di chuyển theo kiểu bốn chân: thân mình của chúng được giữ trên mặt đất bằng những chiếc chân ngắn, hướng ra ngoài. Tuy nhiên cũng có một số loài thằn lằn không có chi và trông giống như rắn. Thằn lằn sở hữu mí mắt linh hoạt, có xuất hiện màng nhĩ và một số loài có mắt giữa.<ref name="Dorit868" />
 
'''[[Rắn]]''' có họ hàng gần gũi với thằn lằn, hai nhánh này đã tách ra từ cùng dòng tổ tiên chung từ [[kỷ Phấn trắng]], và vì vậy nên chúng có chung nhiều đặc điểm giống nhau. Bộ xương chúng được cấu thành từ một hộp sọ, xương móng, cột sống và xương sườn, một số loài còn giữ lại vết tích của xương chậu và các chi phía sau dưới dạng "móng" xương chậu. Thanh xương bên dưới cửa sổ thứ hai cũng đã bị tiêu biến, điều này làm cho hàm rắn có độ linh hoạt cực cao và cho phép chúng nuốt trọn con mồi. Rắn không có mí mắt cử động được, thay vào đó, mắt của chúng được phủ bởi lớp vảy trong suốt, như một chiếc "kính mắt" vậy. ChúngRắn không có màng nhĩ nhưng có thể phát hiện những rung động mặt đất qua xương sọ. Khá đặc biệt, lưỡi của rắn được sử dụng với vai trò cơ quan để "nếm" và "đánh hơi" (và chính vì vậy mà rắn thường thè lưỡi vào không khí<ref name="Dorit8592" />). Một số loài còn có các lỗ cảm quan trên đầu cho phép chúng định vị nhiệt phát ra từ những con mồi máu nóng.<ref name="Dorit870">{{cite book|title=Zoology|last1=Dorit|first1=R. L.|last2=Walker|first2=W. F.|last3=Barnes|first3=R. D.|year=1991|publisher=Saunders College Publishing|isbn=978-0-03-030504-7|page=870}}</ref>
 
'''[[Cá sấu]]''' là một loài bò sát lớn, sống ở dưới nước trũng, có mõm dài và một số lượng lớn răng. Đầu và thân của chúng khá dẹt theo mặt lưng-bụng và đuôi được nén ngang. Chúng sẽ quẫy đuôi từ bên này sang bên kia để tạo lực đẩy khi bơi. Các vảy cứng, được sừng hóa, tạo thành một lớp áo giáp bảo vệ cơ thể, một số vảy cũng được hợp nhất với hộp sọ. Lỗ mũi, mắt và tai được nâng lên phía trên cái đầu dẹt của chúng, cho phép những cơ quan này ở trên mặt nước khi cá sấu nổi. Các van sẽ bít kín lỗ mũi và tai khi chúng lặn xuống nước. Không giống như các loài bò sát khác, cá sấu có tim với bốn ngăn, khiến cho máu giàu oxy và máu nghèo oxy được tách biệt và không bị trộn lẫn.<ref name="Dorit874">{{cite book|title=Zoology|last1=Dorit|first1=R. L.|last2=Walker|first2=W. F.|last3=Barnes|first3=R. D.|year=1991|publisher=Saunders College Publishing|isbn=978-0-03-030504-7|page=874}}</ref>
 
=== Giải phẫu chim ===
[[Giải phẫu người]], [[Di truyền học|y sinh học di truyền]], [[sinh lý học]] và [[Hóa sinh|hóa sinh y học]] là những môn khoa học y tế cơ bản, thường được dạy cho [[sinh viên y khoa]] trong năm đầu tiên tại trường y của các quốc gia trên thế giới.<ref name="intro HGray2">{{cite web|url=http://www.bartleby.com/107/1.html|title=Introduction page, "Anatomy of the Human Body". Henry Gray. 20th edition. 1918|accessdate=15 Sep 2019|archiveurl=https://web.archive.org/web/20070316005206/http://www.bartleby.com/107/1.html|archivedate=16 March 2007}}</ref> Tại Việt Nam, giải phẫu người, y sinh học di truyền được học trong năm thứ nhất, còn sinh lý học và hóa sinh y học được học trong năm thứ hai. Đây là 4 môn cơ sở ngành, được lựa chọn để thi tuyển [[bác sĩ nội trú]], [[đào tạo sau đại học]].<ref>{{Chú thích web|url=http://cmesdh-hmu.com/bai-viet/73-thong-bao-tuyen-sinh-bac-si-noi-tru-2018.html|title=Thông báo tuyển sinh Bác sĩ nội trú 2018 (trích từ THÔNG BÁO TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC NĂM 2018)|last=|first=|date=|website=Phòng quản lý sau đại học trường Đại học Y Hà Nội|archive-url=|archive-date=|dead-url=|access-date=2019-08-13}}</ref>
 
Giải phẫu người được dạy theo định khu hoặc hệ thống; tức là thao tác nghiên cứu giải phẫu theo từng vùng khu trú, hoặc nghiên cứu dọc theo một hệ thống các cơ quan cụ thể, chẳng hạn như hệ thần kinh hoặc hệ hô hấp.<ref name="intro HGray2" /> Một trong những quyển sách giáo khoa giải phẫu nổi tiếng nhất trên thế giới là quyển ''[[Gray's Anatomy]] ''(Giải phẫu Gray)'', đã được sắp xếp lại từ cách trình bày theo giải phẫu hệ thống sang cách trình bày theo giải phẫu khu vực, phù hợp với phương pháp giảng dạy hiện đại.<ref>{{cite book|url=http://www.us.elsevierhealth.com/product.jsp?isbn=0443071683|title=Publisher's page for Gray's Anatomy. 39th edition (US). 2004|isbn=978-0-443-07168-3|accessdate=15 Sep 2019|archiveurl=https://archive.is/20070209134753/http://www.us.elsevierhealth.com/product.jsp?isbn=0443071683|archivedate=9 February 2007|deadurl=yes|df=|last=|first=|publisher=|year=|location=|pages=}}</ref><ref>{{cite book|url=http://www.intl.elsevierhealth.com/catalogue/title.cfm?ISBN=0443071683|archive-url=https://web.archive.org/web/20041205184205/http://intl.elsevierhealth.com/catalogue/title.cfm?ISBN=0443071683|dead-url=yes|archive-date=5 December 2004|title=Publisher's page for Gray's Anatomy. 39th edition (UK). 2004|isbn=978-0-443-07168-3|accessdate=15 Sep 2019|df=}}</ref> Các bác sĩ, đặc biệt là [[Bác sĩ phẫu thuật|phẫu thuật viên]] và bác sĩ làm việc trong một số chuyên khoa chẩn đoán, như [[mô bệnh học]] và [[Tia X|X quang]] đều phải nắm rất vững về kiến thức môn giải phẫu học.<ref name="AAA">{{cite web|url=http://www.anatomy.org/|title=American Association of Anatomists|accessdate=15 Sep 2019}}</ref>
 
Các nhà giải phẫu học được trường y hoặc bệnh viện giảng dạy tuyển dụng. Họ vừa tham gia giảng dạy giải phẫu cho sinh viên và học viên, vừa đi sâu nghiên cứu một số hệ thống, cơ quan, mô hoặc tế bào nhất định.<ref name="AAA" /><br />
== Giải phẫu động vật không xương sống ==
[[Tập tin:Chirocephalus_diaphanus_male_head.png|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Chirocephalus_diaphanus_male_head.png|nhỏ|Đầu của con ''[[Daphnia]]'', một [[động vật giáp xác]] [[Sinh vật phù du|phù du]]|200x200px]]
Động vật không xương sống là các sinh vật từ sinh vật nhân đơn bào đơn giản nhất như [[trùng đế giày]] đến các động vật đa bào phức tạp như [[bạch tuộc]], [[Họ Tôm hùm càng|tôm hùm]] và [[chuồn chuồn]]. Động vật không xương sống chiếm khoảng 95% tổng số các loài động vật. Các tế bào [[động vật nguyên sinh]] đơn bào có cấu trúc cơ bản giống như tế bào của động vật đa bào, nhưng một số bào quan được chuyên biệt. Động vật nguyên sinh di chuyển bằng roi hoặc [[tiên mao]] hoặc di chuyển thông qua sự hình thành [[giả túc]] (tay giả), lấy thức ăn bằng hình thức [[thực bào]]. Năng lượng cũng có thể được cung cấp nhờ [[quang hợp]] và tế bào được hỗ trợ bởi [[bộ xương trong]] hoặc [[bộ xương ngoài]]. Một số động vật nguyên sinh có thể hình thành [[khuẩnTập lạcđoàn (sinh học)|tập đoàn]].<ref>{{cite book|title=Invertebrate Zoology, 7th edition|last1=Ruppert|first1=Edward E.|last2=Fox|first2=Richard, S.|last3=Barnes|first3=Robert D.|year=2004|publisher=Cengage Learning|isbn=978-81-315-0104-7|pages=23–24}}</ref>
 
[[Eumetazoa|Động vật đa bào]] là cá thể có tế bào phân hóa, giữ các chức năng chuyên biệt. Các loại mô của động vật đa bào cơ bản nhất là [[biểu mô]] và [[mô liên kết]], cả hai đều có mặt trong hầu hết các động vật không xương sống. Bề mặt ngoài của lớp biểu bì hình thành từ các tế bào biểu mô và tiết ra một [[Cấu trúc nền của da|cấu trúc nền ngoại bào]] bảo vệ sinh vật. Bộ xương trong có nguồn gốc từ [[trung bì]], có mặt trong [[ngành Da gai]], [[Động vật thân lỗ|Thân lỗ]] và một số [[Động vật chân đầu|Chân đầu]]. [[Bộ xương ngoài]] có nguồn gốc từ lớp ngoại bì, chứa [[kitin]], xuất hiện ở [[Động vật Chân khớp|Chân khớp]] (côn trùng, nhện, ve, tôm, cua). [[Canxi cacbonat]] tạo thành vỏ của [[Động vật thân mềm|Thân mềm]] , Tay cuộn và một số [[Giun nhiều tơ|họ Giun nhiều tơ]]; [[Silic điôxít|Silic dioxit]] tạo thành bộ xương ngoài của [[tảo silic]] và [[trùng tia]].<ref>{{cite encyclopedia|url=http://www.britannica.com/EBchecked/topic/198292/exoskeleton|title=Exoskeleton|encyclopedia=Encyclopædia Britannica|accessdate=15 Sep 2019}}</ref> Nhiều động vật không xương sống khác không có cấu trúc cứng nhưng lớp biểu bì tiết ra nhiều chất phủ bề mặt như [[tế bào dạng kim]] (''pinacoderm'', biểu bì bọt biển), lớp biểu bì gelatin của [[ngành Thích ty bào]] ([[polyp]], [[Bộ Hải quỳ|hải quỳ]], [[sứa]]) và lớp biểu bì collagen của [[ngành Giun đốt]]. Lớp biểu mô bên ngoài của một số loài có thể là tế bào cảm giác, tế bào tuyến và tế bào châm (''cnydocyte''), cũng có thể có các phần nhô ra như [[vi nhung mao]], mao, tơ cứng, [[lông gai]] và [[mấu]].<ref>{{cite encyclopedia|url=http://www.britannica.com/EBchecked/topic/289723/integument|title=Integument|author=Ebling, F. J. G.|encyclopedia=Encyclopædia Britannica|accessdate=15 Sep 2019}}</ref>
[[Động vật Chân khớp]] là [[Ngành (sinh học)|ngành]] lớn nhất trong [[Giới (sinh học)|giới]] động vật với hơn một triệu loài động vật không xương sống được biết đến.<ref>Britannica Concise Encyclopaedia 2007</ref>
 
Cơ thể của [[côn trùng]] phân đốt, bên ngoài được bảo vệ bởi lớp vỏ cứng (bộ xương ngoài), có thành phẩn chủ yếu là [[kitin]]. Cơ thể được chia thành ba phần riêng biệt: đầu, ngực và bụng.<ref>{{cite web|title=O. Orkin Insect zoo|url=http://insectzoo.msstate.edu/Students/basic.structure.html|year=1997|publisher=Mississippi State University|accessdate=15 Sep 2019|deadurl=yes|archiveurl=https://web.archive.org/web/20090602045832/http://www.insectzoo.msstate.edu/Students/basic.structure.html|archivedate=2 June 2009|df=}}</ref> Đầu thường có hai chiếc râu, một đôi [[mắt kép]], một đến ba [[mắt đơn]] và [[Miệng côn trùng|miệng]]. Ngực có ba cặp [[Chân côn trùng|chân]], mỗi cặp phân đốt tạo nên ngực và một (hoặc hai) đôi cánh. Phần bụng có tới mười một phân đốt, chứa [[hệ tiêu hóa]], [[hệ hô hấp]], [[hệ bài tiết]] và [[hệ sinh dục]].<ref name="Gullan and Cranston">{{cite book|last=Gullan|first=P.J.|last2=Cranston|first2=P. S.|title=The Insects: An Outline of Entomology|publisher=Blackwell Publishing|location=Oxford|year=2005|edition=3|pages=22–48|isbn=978-1-4051-1113-3}}</ref> Có sự khác biệt đáng kể trên các bộ phận cơ thể, đặc biệt là cánh, chân, râu và miệng giữa các loài, nguyên nhân là do sự thích nghi với môi trường.<ref name=":0">{{cite book|title=Invertebrate Zoology, 7th edition|last1=Ruppert|first1=Edward E.|last2=Fox|first2=Richard, S.|last3=Barnes|first3=Robert D.|year=2004|publisher=Cengage Learning|isbn=978-81-315-0104-7|pages=218–225}}</ref>
 
[[Nhện]] thuộc [[lớp Hình nhện]], có bốn cặp chân; cơ thể được chia làm hai phân đốt: phần đầu ngực và phần bụng. Nhện không có cánh và râu. Miệng của nhện có dạng giống răng nanh (''chelicerae'') nối tiếp với tuyến nọc độc (hầu hết các loài nhện đều có nọc độc). Chúng có một cặp miệng trông giống như "chiếc kìm" (''pedipalpspedipalp'') gắn liền với phần đầu ngực. "Chiếc kìm" này còn nằm trên các phân đoạn ở chân, có chức năng tương tự như các cơ quan nhận biết mùi vị của động vật khác. Ở nhện đực, cuối mỗi "chiếc kìm" là một chiếc ria sờ (''cymbium'') hình thìa có chức năng hỗ trợ [[cơ quan điều phối]].<ref name=":0" />
 
== Các ngành của giải phẫu ==
=== Thời cổ đại ===
[[Tập tin:Foetal_positions_in_uterus,_pregnant_female_Wellcome_L0000845.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Foetal_positions_in_uterus,_pregnant_female_Wellcome_L0000845.jpg|nhỏ|Hình ảnh của tài liệu có nội dung giải phẫu thời cổ đại|255x255px]]
Năm 1600 TCN, [[Vănvăn bản giấy cói Edwin Smith]], một [[văn bản y học]] thời [[Ai Cập cổ đại]], đã mô tả [[tim]], mạch, [[gan]], [[lách]] , [[thận]] , [[vùng dưới đồi]] , [[tử cung]] và [[bàng quang]], trong đó có nhắc đến sự vận chuyển máu từ tim đến các mạch máu. Văn bản giấy cói Ebers (khoảng 1550 TCN) là bài "luận về trái tim", trong đó có viết: mạch máu chở tất cả dịch lỏng đi và đến tất cả các cơ quan trong cơ thể.<ref>{{cite book|title=The Greatest Benefit to Mankind: A Medical History of Humanity from Antiquity to the Present|last=Porter|first=R.|year=1997|publisher=Harper Collins|isbn=978-0-00-215173-3|pages=49–50}}</ref>
 
Giải phẫu và sinh lý học [[Hy Lạp cổ đại]] đã trải qua nhiều thay đổi và tiến bộ lớn thời cổ đại. Theo thời gian, hai ngành học ngày càng được mở rộng và phát triển nhờ sự hiểu biết sâu rộng về các chức năng các cơ quan và cấu trúc trong cơ thể. Các quan sát giải phẫu hiện tượng cơ thể người được thực hiện đã góp phần nâng cao hiểu biết về não, mắt, gan, cơ quan sinh dục và hệ thần kinh.<ref name="Longrigg">{{cite journal|last1=Longrigg|first1=James|title=Anatomy in Alexandria in the Third Century B.C|journal=The British Journal for the History of Science|date=December 1988|volume=21|issue=4|pages=455–488|jstor=4026964|doi=10.1017/s000708740002536x}}</ref>
Giải phẫu cơ và xương được mô tả trong cuốn ''[[Hippoc Corpus]]'', một công trình y học Hy Lạp cổ đại do tác giả vô danh soạn thảo.<ref>{{cite book|last=Gillispie|first=Charles Coulston|authorlink=Charles Coulston Gillispie|title=Dictionary of Scientific Biography|volume=VI|pages=419–427|year=1972|publisher=Charles Scribner's Sons|location=New York}}</ref> [[Aristoteles|Aristotle]] mô tả giải phẫu động vật có xương sống dựa trên thao tác phẫu tích động vật. [[Praxagoras]] tìm ra sự khác biệt giữa [[động mạch]] và [[tĩnh mạch]]. Ở thế kỷ IV trước Công nguyên, [[Herophilos]] và [[Erasistratus]] đưa ra những mô tả giải phẫu chính xác hơn nhờ vào giải phẫu sinh thể các thi thể tội phạm ở [[Alexandria]] trong [[Nhà Ptolemaios|triều đại nhà Ptolemaios]].<ref name="Bodies">{{cite book|url=https://books.google.com/?id=5Xb9e3SLAZwC&pg=PA256&lpg=PA256&dq=Ptolemaic+vivisection#v=onepage&q=Ptolemaic%20vivisection&f=false|title=Medicine and Society in Ptolemaic Egypt|author=Lang, Philippa|publisher=Brill NV|year=2013|page=256|isbn=978-9004218581}}</ref><ref>[http://exhibits.hsl.virginia.edu/antiqua/alexandrian/ "Alexandrian Medicine"]. ''Antiqua Medicina – from Homer to Vesalius''. University of Virginia.</ref>
 
Vào thế kỷ II tại thành phố [[Pergamon]], nhà giải phẫu học, bác sĩ lâm sàng, nhà văn và nhà triết học [[Galenus|Galen]] đã viết bài luận văn có chủ đề giải phẫu. Bài luận văn này có sức ảnh hưởng to lớn cho nền y học thời cổ đại.<ref name="pmid1081972">{{cite journal|vauthors=Charon NW, Johnson RC, Muschel LH|title=Antileptospiral activity in lower-vertebrate sera|journal=Infect. Immun.|volume=12|issue=6|pages=1386–1391|year=1975|pmid=1081972|pmc=415446|doi=}}</ref> Ông biên soạn các kiến thức hiện có và nghiên cứu giải phẫu thông qua phẫu tích động vật.<ref name="BritBrit-Galen">{{cite encyclopedia|chapterurl=http://www.britannica.com/EBchecked/topic/223895/Galen-of-Pergamum|title=Encyclopædia Britannica 2006 Ultimate Reference Suite DVD|chapter=Galen of Pergamum|first=Vivien|last=Hutton}}</ref> Ông là một trong những nhà sinh lý học thực nghiệm đầu tiên nhờ các thí nghiệm giải phẫu sinh thể trên động vật.<ref name=":1">Brock, Arthur John (translator) ''[https://archive.org/stream/galenonnaturalfa00galeuoft#page/xxxii/mode/2up Galen. On the Natural Faculties]''. Edinburgh, 1916. Introduction, page xxxiii.</ref> Các bức vẽ của Galen, chủ yếu dựa trên giải phẫu chó, trở thành sách giáo khoa giải phẫu duy nhất trong một nghìn năm. Các bác sĩ thời [[Phục Hưng|Phục hưng]] chỉ biết đến công trình của Galen vào [[thời đại hoàng kim của Hồi giáo]], khi sách được dịch từ tiếng Hy Lạp trong một thời gian ở thế kỷ XV.<ref name=":1" />
 
=== Thời trung cổ đến sơ kỳ cận đại ===
[[Tập tin:Studies_of_the_Arm_showing_the_Movements_made_by_the_Biceps.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Studies_of_the_Arm_showing_the_Movements_made_by_the_Biceps.jpg|nhỏ|Giải phẫu cánh tay, tranh của [[Leonardo da Vinci]] (khoảng 1510)|292x292px|thế=]]
[[Tập tin:Charta_ex_qva_figvram_parare_convenit,_illi_qvae_nervorvm_seriem_exprimit_appendendam,_1543..JPG|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Charta_ex_qva_figvram_parare_convenit,_illi_qvae_nervorvm_seriem_exprimit_appendendam,_1543..JPG|nhỏ|Tranh giải phẫu trong cuốn ''Epitome'' của [[Andreas Vesalius|Vesalius]], xuất bản năm 1543|290x290px|thế=|trái]]
Giải phẫu chậm phát triển thời cổ đại cho đến thế kỷ XVI. Nhà sử học Marie Boas viết, "Tiến bộ về giải phẫu trước thế kỷ XVI chậm chạmchạp một cách bí ẩn, và sự phát triển của giải phẫu sau năm 1500 lại nhanh chóng một cách đáng kinh ngạc".<ref name="Boas">{{cite book|title=The Scientific Renaissance 1450–1630|publisher=Fontana|author=Boas, Marie|year=1970|origyear=first published by Collins, 1962|pages=120–143}}</ref>{{rp|120–121}} Từ năm 1275 đến năm 1326, tại Bologna, ba nhà giải phẫu học [[Mondino de Luzzi]] , [[Alessandro Achillini]] và [[Antonio Benivieni]] lần đầu tiên tiến hành phẫu tích người một cách hệ thống.<ref name="ZimmermanVeith1993">{{cite book|last1=Zimmerman|first1=Leo M.|last2=Veith|first2=Ilza|title=Great Ideas in the History of Surgery|url=https://books.google.com/books?id=ABbCI7z4UwMC|year=1993|publisher=Norman|isbn=978-0-930405-53-3}}</ref><ref name="Crombie1959">{{cite book|last=Crombie|first=Alistair Cameron|title=The History of Science From Augustine to Galileo|url=https://books.google.com/books?id=bGDScHy1clsC&pg=PA4|year=1959|publisher=Courier Dover Publications|isbn=978-0-486-28850-5}}</ref><ref name="Crombie19592">{{cite book|last=Crombie|first=Alistair Cameron|title=The History of Science From Augustine to Galileo|url=https://books.google.com/books?id=bGDScHy1clsC&pg=PA4|year=1959|publisher=Courier Dover Publications|isbn=978-0-486-28850-5}}</ref> Quyển'' Giải phẫu'' năm 1316 của Mondino là sách giáo khoa đầu tiên từ thời trung cổ về giải phẫu người. Sách mô tả cơ thể theo trình tự bộc lộ khi Mondino phẫu tích, xuất phát từ vùng bụng, ngực, sau đó là đầu và tứ chi. Đây là sách giáo khoa giải phẫu tiêu chuẩn được dùng cho nhiều thế kỷ sau này.<ref name="Boas" />
[[Tập tin:Michiel_Jansz_van_Mierevelt_-_Anatomy_lesson_of_Dr._Willem_van_der_Meer.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Michiel_Jansz_van_Mierevelt_-_Anatomy_lesson_of_Dr._Willem_van_der_Meer.jpg|phải|nhỏ|''Buổi học giải phẫu của bác sĩ Willem van der Meer'', trạnh của [[Michiel Jansz van Mierevelt]] (năm 1617)|200x200px]]
[[Leonardo da Vinci]] (1452–1519) được [[Andrea del Verrocchio]] đào tạo về giải phẫu học. Ông đã sử dụng kiến thức giải phẫu của mình trong tác phẩm nghệ thuật, thực hiện nhiều bản phác thảo về cấu trúc xương, cơ, các cơ quan của người và động vật có xương sống khác mà ông phẫu tích.<ref name="Boas" /><ref>{{cite book|last=Mason|first=Stephen F.|title=A History of the Sciences|publisher=Collier|year=1962|location=New York|page=550}}</ref>
 
[[Leonardo da Vinci]] (1452–1519) được [[Andrea del Verrocchio]] đào tạo về giải phẫu học. Ông đã sử dụng kiến thức giải phẫu của mình trong tác phẩm nghệ thuật, thực hiện nhiều bản phác thảo về cấu trúc xương, cơ, các cơ quan của người và động vật có xương sống khác mà ông phẫu tích.<ref name="Boas" /><ref>{{cite book|last=Mason|first=Stephen F.|title=A History of the Sciences|publisher=Collier|year=1962|location=New York|page=550}}</ref>
[[Andreas Vesalius]] (1514–1564) (Andries van Wezel) xuất thân từ vùng Brabant, là giáo sư giải phẫu tại [[Đại học Padua]]. Ông được coi là người sáng lập ngành giải phẫu người hiện đại.<ref>{{cite web|url=http://www2.warwick.ac.uk/newsandevents/pressreleases/new_material_from/|title=Warwick honorary professor explores new material from founder of modern human anatomy|work=Press release|publisher=University of Warwick|accessdate=15 Sep 2019}}</ref> Vesalius xuất bản cuốn sách nổi tiếng ''[[De humani corporis fabrica]]'' (Cấu trúc cơ thể người), một cuốn sách khổ lớn gồm 7 tập, xuất bản năm 1543.<ref>Vesalius, Andreas. ''De humani corporis fabrica libri septem''. Basileae [Basel]: ''Ex officina'' Joannis Oporini, 1543.</ref>  Các hình minh họa chuẩn xác đến từng chi tiết phức tạp, các tư thế [[phúng dụ]] mang khuynh hướng chống đối trường phái Ý được cho là của nghệ sĩ [[Jan van Calcar]], một học trò của [[Tiziano Vecelli|Titian]].<ref>O'Malley, C.D. ''Andreas Vesalius of Brussels, 1514–1564''. Berkeley: University of California Press, 1964.</ref>
 
[[Andreas Vesalius]] (1514–1564) (Andries van Wezel) xuất thân từ vùng Brabant, là giáo sư giải phẫu tại [[Đại học Padua]]. Ông được coi là người sáng lập ngành giải phẫu người hiện đại.<ref>{{cite web|url=http://www2.warwick.ac.uk/newsandevents/pressreleases/new_material_from/|title=Warwick honorary professor explores new material from founder of modern human anatomy|work=Press release|publisher=University of Warwick|accessdate=15 Sep 2019}}</ref> Vesalius xuất bản cuốn sách nổi tiếng ''[[De humani corporis fabrica]]'' (CấuVề cấu trúc cơ thể người), một cuốn sách khổ lớn gồm 7 tập, xuất bản năm 1543.<ref>Vesalius, Andreas. ''De humani corporis fabrica libri septem''. Basileae [Basel]: ''Ex officina'' Joannis Oporini, 1543.</ref>  Các hình minh họa chuẩn xác đến từng chi tiết phức tạp, các tư thế [[phúng dụ]] mang khuynh hướng chống đối trường phái Ý được cho là của nghệ sĩ [[Jan van Calcar]], một học trò của [[Tiziano Vecelli|Titian]].<ref>O'Malley, C.D. ''Andreas Vesalius of Brussels, 1514–1564''. Berkeley: University of California Press, 1964.</ref>
Ở Anh, giải phẫu là một chủ đề được nêu lên trong các bài giảng công khai đầu tiên về khoa học. Trong thế kỷ XVI, vua Henri VIII sát nhập Hội Giải phẫu với Đoàn Hớt Tóc để thành lập [[Đoàn Hớt tóc – Giải phẫu]]. Họ không có huấn luyện y khoa, thường được giao phó chăm sóc thương binh trong chiến tranh, lấy máu cũng như lưu ngụ tại các lâu đài để phục vụ các vị chủ nhân danh gia, vọng tộc.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.erct.com/2-ThoVan/NguyeYDuc/Tienbo_cua_phauthuat.htm|title=Tiến bộ của phẫu thuật|last=|first=Nguyễn Ý-Đức M.D.|date=tháng 7 năm 2009|website=|archive-url=http://www.erct.com/2-ThoVan/NguyeYDuc/Tienbo_cua_phauthuat.htm|archive-date=23 tháng 10 năm 2017|dead-url=no|access-date=13 tháng 9 năm 2019}}</ref><ref name="Boas229">{{cite book|title=The Scientific Renaissance 1450–1630|publisher=Fontana|author=Boas, Marie|year=1970|origyear=first published by Collins, 1962|page=229}}</ref>
 
Ở Anh, giải phẫu là một chủ đề được nêu lên trong các bài giảng công khai đầu tiên về khoa học. Trong thế kỷ XVI, vua Henri[[Henry VIII của Anh|Henry VIII]] sát nhập Hội Giải phẫu với Đoàn HớtThợ Tóccạo để thành lập [[Đoàn Hớt tóc – Giải phẫu|Đoàn Thợ cạo – Giải phẫu]]. Họ không có huấn luyện y khoa, thường được giao phó chăm sóc thương binh trong chiến tranh, lấy máu cũng như lưu ngụ tại các lâu đài để phục vụ các vị chủ nhân danh gia, vọng tộc.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.erct.com/2-ThoVan/NguyeYDuc/Tienbo_cua_phauthuat.htm|title=Tiến bộ của phẫu thuật|last=|first=Nguyễn Ý-Đức M.D.|date=tháng 7 năm 2009|website=|archive-url=http://www.erct.com/2-ThoVan/NguyeYDuc/Tienbo_cua_phauthuat.htm|archive-date=23 tháng 10 năm 2017|dead-url=no|access-date=13 tháng 9 năm 2019}}</ref><ref name="Boas229">{{cite book|title=The Scientific Renaissance 1450–1630|publisher=Fontana|author=Boas, Marie|year=1970|origyear=first published by Collins, 1962|page=229}}</ref>
=== Hậu kỳ cận đại và hiện đại ===
{{Xem thêm|Lich sử giải phẫu học thế kỉ XIX}}
 
=== Hậu kỳ cận đại và hiện đại ===
{{Xem thêm|LichLịch sử giải phẫu học thế kỉ XIX}}
[[Tập tin:Rembrandt - The Anatomy Lesson of Dr Nicolaes Tulp.jpg|nhỏ|245x245px|Bức tranh nổi tiếng của Rembrandt về đề tài giải phẫu: ''Giờ học giải phẫu của giáo sư Nicolaes Tulp,'' vẽ năm 1932''.'']]
Tại Hoa Kỳ, các trường y bắt đầu được thành lập từ cuối thế kỷ XIII. Lớp học giải phẫu luôn đòi hỏi phải có thi thể để sinh viên phẫu tích và việc đáp ứng nhu cầu này rất khó khăn. Philadelphia, Baltimore và New York đều là những địa điểm nổi tiếng với hoạt động [[trộm cắp thi thể]] để bán cho các nhà phẫu thuật. Thủ phạm đột nhập vào nghĩa địa lúc nửa đêm, nhấc thi thể mới chôn ra khỏi [[quan tài]].<ref name="trafficdead">{{cite book|author=Sappol, Michael|title=A traffic of dead bodies: anatomy and embodied social identity in nineteenth-century America|publisher=Princeton University Press|location=Princeton, NJ|year=2002|isbn=978-0-691-05925-9|url=https://books.google.com/books/princeton?id=-9cKRzEx6ywC&printsec=frontcover&dq=A+Traffic+of+Dead+Bodies}}</ref> Vấn đề này cũng tồn tại ở Anh khi mà nhu cầu thi thể rất lớn. Tội phạm đào mộ lấy thi thể, thậm chí giết người để có tử thi đem bán cho các cuộc nghiên cứu về giải phẫu.<ref name="Rosner, Lisa. 2010">Rosner, Lisa. 2010. The Anatomy Murders. Being the True and Spectacular History of Edinburgh's Notorious Burke and Hare and of the Man of Science Who Abetted Them in the Commission of Their Most Heinous Crimes. University of Pennsylvania Press</ref> Một số nghĩa địa phải có tháp canh để bảo vệ mộ. Việc ban hành [[Đạo luật Giải phẫu 1832|Đạo luật Giải phẫu năm 1832]] ở Anh đã chấm dứt tình trạng này.<ref>{{cite book|title=Death, Dissection, and the Destitute|publisher=Penguin|author=Richardson, Ruth|year=1989|isbn=978-0-14-022862-5}}</ref><ref>{{cite web|url=http://www.leeds.ac.uk/chb/lectures/anatomy1.html|title=Introductory Anatomy|publisher=University of Leeds|accessdate=15 Sep 2019|author=Johnson, D.R.}}</ref> Ở Hoa Kỳ, một đạo luật tương tự được ban hành sau khi bác sĩ [[William S. Forbes]] thuộc [[Đại học Y Jefferson]] bị kết tội vào năm 1882 với tội danh "đồng lõa với những kẻ đào trộm xác chết tàn phá nhiều ngôi mộ trong nghĩa trang Lebanon".<ref>{{cite web|url=http://www.jefferson.edu/about/eakins/forbes.html|title=Reproduction of Portrait of Professor William S. Forbes|publisher=Jefferson: Eakins Gallery|accessdate=15 Sep 2019|url-status=|archiveurl=https://web.archive.org/web/20131016064638/http://www.jefferson.edu/about/eakins/forbes.html|archivedate=16 October 2013|df=|date=|website=|last=|first=|dead-url=}}</ref>
 
Từ năm 1863 đến 1889, Sir [[John Struthers (nhà giải phẫu học)|John Struthers]], giáo sư bộ môn Giải phẫu thuộc [[Đại học Aberdeen]], đã thay đổi cách thức giảng dạy giải phẫu học ở Anh. Ông thiết lập hệ thống ba năm giảng dạy các môn "[[tiền lâm sàng]]" bao hàm các ngành khoa học cơ bản y học, trong đó có giải phẫu. Hệ thống này tồn tại cho đến khi chương trình đào tạo bác sĩ y khoa cải cách vào năm 1993 và 2003. Ngoài việc giảng dạy, ông còn thu thập nhiều bộ xương động vật để thành lập bảo tàng [[giải phẫu so sánh]], xuất bản hơn 70 tài liệu nghiên cứu và nổi tiếng nhờ công trình phẫu tích [[cá voi Tay]].<ref name="pmid1717373426">{{cite journal|vauthors=Waterston SW, Laing MR, Hutchison JD|title=Nineteenth century medical education for tomorrow's doctors|journal=Scottish Medical Journal|volume=52|issue=1|pages=45–49|year=2007|pmid=17373426|doi=10.1258/rsmsmj.52.1.45}}</ref><ref name="pmid15712576">{{cite journal|vauthors=Waterston SW, Hutchison JD|title=Sir John Struthers MD FRCS Edin LLD Glasg: Anatomist, zoologist and pioneer in medical education|journal=The Surgeon|volume=2|issue=6|pages=347–351|year=2004|pmid=15712576|doi=10.1016/s1479-666x(04)80035-0}}</ref> Năm 1822, Đại học Phẫu thuật Hoàng gia quy định việc giảng dạy giải phẫu trong các trường y.<ref name="McLachlan, J. 2006. p.243-53">McLachlan, J. & Patten, D. 2006. Anatomy teaching: ghosts of the past, present and future. Medical Education, 40(3), tr.&nbsp;243–253.</ref> Bảo tàng y học là nơi cung cấp các hình ảnh về giải phẫu so sánh, được sử dụng làm tài liệu giảng dạy.<ref>Reinarz, J. 2005. The age of museum medicine: The rise and fall of the medical museum at Birmingham's School of Medicine. Social History of Medicine, 18(3), tr.&nbsp;419–437.</ref> [[Ignaz Semmelweis]] nghiên cứu về cơ chế gây [[nhiễm trùng sau sinh]]. Ông nhận thấy rằng các cơn sốt gây chết người này xảy ra thường xuyên hơn ở những bà mẹ được sinh viên y khoa thăm khám, đặc biệt là sinh viên nào mà đi từ phòng phẫu tích đến bệnh viện và thăm khám phụ nữ mới sinh con. Giáo sư Semmelweisnhận thấy rằng việc sinh viên rửa tay bằng vôi clo trước khi thăm khám lâm sàng có thể giúp tỷ lệ nhiễm trùng sau sinh ở các bà mẹ giảm đi đáng kể.<ref>{{cite web|url=http://global.britannica.com/biography/Ignaz-Philipp-Semmelweis|title=Ignaz Philipp Semmelweis|work=Encyclopædia Britannica|accessdate=15 Sep 2019|date=|last=|first=|archive-url=https://web.archive.org/web/20151217232538/http://global.britannica.com/biography/Ignaz-Philipp-Semmelweis|archive-date=17 Dec 2015|dead-url=yes}}</ref>
[[Tập tin:Siemens-electron-microscope.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Siemens-electron-microscope.jpg|nhỏ|Kính hiểu vi điện tử|264x264px]]
Trước thời đại y học hiện đại, phương tiện chính để nghiên cứu cấu trúc bên trong của cơ thể là [[phẫu tích]] thi thể và [[kiểm tra]], [[sờ nắn]], [[thính chẩn]] (nghe bệnh) trên người sống. Sự ra đời của [[kính hiển vi]] đã mở ra một kỷ nguyên mới trong sự hiểu biết về các cấu trúc cấu thành mô sống. Những tiến bộ kỹ thuật trong việc phát triển [[thấu kính tiêu sắc]] làm tăng khả năng phân ly của kính hiển vi. Khoảng năm 1839, [[Matthias Jakob Schleiden]] và [[Theodor Schwann]] nhận định rằng tế bào là đơn vị cơ bản của tất cả các tổ chức sống. [[Máy vi phẫu]] được phát minh để thực hiện cắt lát qua mô đủ mỏng để kiểm tra các cấu trúc nhỏ hơn nữa.. Kỹ thuật nhuộm tiêu bản giúp phân biệt giữa các loại mô khác nhau. Những tiến bộ trong lĩnh vực [[mô học]] và [[Sinh học tế bào|tế bào học]] bắt đầu nỏ rộ vào cuối thế kỷ XIX, cùng với những tiến bộ trong kỹ thuật phẫu thuật cho phép loại bỏ các mẫu [[sinh thiết]] an toàn mà không gây đau đớn. [[Kính hiển vi điện tử]] được phát minh đã mang lại một bước tiến lớn, cho phép nghiên cứu các [[cấu trúc siêu vi]] của tế bào, gồm [[bào quan]] và cấu trúc khác bên trong chúng. Vào những năm 50 của thế kỉ XIX, việc sử dụng hiện tượng [[nhiễu xạ tia X]] để nghiên cứu cấu trúc của protein, [[axit nucleic]] và các [[phân tử sinh học]] khác đã thiết lập một ngành giải phẫu mới: [[giải phẫu phân tử]].<ref name="BritMicro">{{cite web|url=http://www.britannica.com/EBchecked/topic/22980/anatomy/283/Microscopic-anatomy|title=Microscopic anatomy|work=Encyclopædia Britannica|accessdate=15 Sep 2019}}</ref>
 
Thủ thuật ''không xâm lấn'' để kiểm tra các cấu trúc bên trong của cơ thể cũng là những tiến bộ không kém phần quan trọng. [[Tia X]] có khả năng truyền qua cơ thể, được ứng dụng trong [[chụp X quang]] và [[nội soi huỳnh quang]] để phân biệt các cấu trúc bên trong nhờ mức độ mờ đục khác nhau. [[Chụp cộng hưởng từ]], [[chụp cắt lớp vi tính]] và [[Siêu âm y khoa|siêu âm]] đều cho phép kiểm tra các cấu trúc bên trong ở mức vô cùng chi tiết, vượt xa trí tưởng tượng và khả năng của các nền y học trước kia.<ref>{{cite web|url=http://www.mhhe.com/biosci/ap/foxhumphys/student/olc/h-reading1.html|title=Anatomical Imaging|publisher=McGraw Hill Higher Education|year=1998|accessdate=15 Sep 2019|archive-url=https://web.archive.org/web/20160303232044/http://www.mhhe.com/biosci/ap/foxhumphys/student/olc/h-reading1.html|archive-date=3 March 2016|url-status=dead}}</ref>