Khác biệt giữa các bản “Hương cống”

Đến năm [[1828]] vua [[Minh Mạng]] mới đổi cách gọi Hương cống thành '''Cử nhân:''' ở Việt Nam, không nên lầm lẫn giữa '''''Cử nhân''' Nho học'' của triều Nguyễn (lấy ít người đậu, 3 năm một khoa thi) với '''''Cử nhân''' tân học'' (tốt nghiệp Đại học của nhiều trường trong nước ngày nay).
 
== Một số danhCống nhân ==
*Đỗ Trọng Vỹ (1829-1899): đỗ Cống sĩ (? chưa rõ năm), làm quan Đốc học, là tác giả Bắc Ninh dư địa chí
*[[Cao Xuân Dục]] (1843–1923): đỗ Cống sĩ lúc 24 tuổi, làm quan Phụ chính Đại thần, Học bộ Thượng thư, Đông các điện Đại học sĩ, từng làm Đề điệu (Chánh chủ khảo) khoa thi Hội; là cha của Phó bảng, Thượng thư [[Cao Xuân Tiếu]]
*[[Nguyễn Thiện Thuật]] (1844-1926): đỗ Cống sĩ lúc 33 tuổi, lãnh tụ khởi nghĩa Cần vương ở Bắc phần Việt Nam thời Pháp thuộc
*[[Đào Tấn]] (1845 – 1907): đỗ Cống sĩ lúc 23 tuổi, làm quan đến Công bộ Thượng thư, Hiệp biện Đại học sĩ; là người soạn tuồng và hát bội nổi tiếng
 
<br />{{Khoa bảng}}
 
==Tham khảo==
Người dùng vô danh