Khác biệt giữa các bản “Strela 2”

Tính riêng từ đầu năm 1972 đến tháng 01/1973, các chiến sĩ Việt Nam đã dùng Strela-2 bắn hạ 29 máy bay chiến đấu (01 chiếc F-4, 7 chiếc O-1, 03 chiếc O-2, 04 chiếc [[OV-10]], 09 chiếc [[A-1]], 04 chiếc [[A-37]]) và 14 máy bay lên thẳng (1 chiếc [[CH-47]], 4 chiếc [[AH-1]], 9 chiếc [[UH-1]]). Đây mới chỉ là số liệu mà Mỹ công nhận, con số thực tế chắc chắn là cao hơn (số liệu của Mỹ chưa tính số máy bay của không quân Sài Gòn bị bắn rơi).
 
Trong một bài viết của tạp chí "Hàng không và thời gian" (năm 2006, số 5) của hai tác giả Zhirohova Michael và Alexander Kotlobovskiy có thông tin thống kê các thành tích của A-72 chống lại máy bay trực thăng chiến đấu của Mỹ tại khu vực An Lộc. 25 lần phóng đạntên lửa đã bắn hạ 18 máy bay trực thăng, đặc biệt là ngày đen tối 12/5/1972 tại khu vực An Lộc, trong vòng một tiếng rưỡi 5 máy bay trực thăng [[AH-1 Cobra]] trúng tên lửa và bị bắn rơi. Ngày 15/6/1972, A-72 làm nên phát bắn gây thiệt hại nặng nhất về người cho không quân Mỹ: 1 chiếc [[AC-130]]A bị A-72 bắn hạ, giết chết toàn bộ 12 thành viên phi hành đoàn.
 
Ngày 28/1/1973, Hiệp định Paris có hiệu lực. Tháng 7/1973, có 22 lần quân đội Việt Nam sử dụng tên lửa A-72, bắn rơi 7 máy bay của không quân Sài Gòn (theo William Le Gros,, "Vietnam: Cease Fire To Capitulation"): 1 chiếc A-37 và 1 chiếc UH-1 ở Quảng Trị, 2 chiếc A-1 và 1 chiếc F-5 ở Bình Long, 1 chiếc A-1 ở Tiên Phước, 1 chiếc UH-1 và 1 chiếc CH–47 ở Biên Hòa. Theo thống kê của trang globalsecurity.org, tính tổng số từ tháng 1/1973 đến mùa hè 1974, số máy bay của quân đội Sài Gòn bị A-72 bắn rơi là 17 chiếc: 5 máy bay A-1; 5 chiếc A-37; 1 chiếc AC-119; 1 chiếc F-5; 3 chiếc UH-1; 2 chiếc CH-47. Báo cáo chính thức của tùy viên quân sự Đại sứ quán Mỹ cung cấp là quân đội Sài Gòn tổn thất 23 máy bay chiến đấu bởi A-72. Đến cuối năm 1974 tổng số máy bay bị A-72 bắn rơi lên đến 28 máy bay, trong đó có ít nhất một chiếc AC-119.
 
Sự xuất hiện của A-72 đã gây một áp lực tâm lý nặng nề cho phi công Mỹ, nhất là phi công trực thăng. Tại miền Nam trước năm 1972, quân Giải phóng chỉ có thể bắn máy bay Mỹ bằng súng máy, phi công Mỹ chỉ cần bay cao hơn 800 mét là khá an toàn. Chỉ những lúc trực thăng Mỹ bay thấp thì mới dễ bị bắn, nhưng trực thăng bị trúng một vài phát đạn súng máy thì cũng chưa chắc đã rơi, và nếu có rơi thì phi công Mỹ vẫn có tỷ lệ sống sót khá cao. Nhưng khi tên lửa A-72 xuất hiện thì tình thế khác hẳn: A-72 có thể bắn trúng mục tiêu ở độ cao tới 32.300 kmmét (thờitức đó chỉ rấtthể ítbắn trựctới thăngđộ cao thểbay thoátcủa khỏiđa tầmsố bắntrực nàythăng thời đó), và chỉ cần 1 quả đánh trúng trực thăng thì sức nổ của nó sẽ ngay lập tức giết chết phi công hoặc khiến trực thăng bốc cháy dữ dội, khiến tỷ lệ sống sót của phi công là rất thấp. Theo 1 thống kê đối với 9 trực thăng Mỹ trúng tên lửa vào năm 1972, chỉ có 2 tổ phi công (lái loại AH-1 Cobra) là may mắn thoát chết.
 
Anh hùng Trần Văn Xuân (dùng A-72 bắn rơi 8 máy bay) lúc đó là tiểu đội trưởng kiêm xạ thủ cho biết: Nếu chỉ suy nghĩ và tuân theo chiến thuật lý thuyết một cách cứng nhắc thì sẽ không có những chiến công vang dội. Lúc huấn luyện, khi bộ đội Việt Nam thắc mắc thì giáo viên thường nói: ''“Nhà sản xuất hướng dẫn thao tác thế. Không sai đâu. Phải chấp hành!”''. Khi mới vào trận, chiến thuật được dạy theo lý thuyết tỏ ra không hiệu quả, riêng tiểu đội của Xuân hy sinh gần một nửa. Anh Xuân nhận ra nguyên nhân là do cách bắn nâng rê trước khi phóng đạn một giây, chỉ theo ước lượng của xạ thủ chứ không có tham số mục tiêu cụ thể khiến tên lửa hay bị trượt, vì vậy anh Xuân lặng lẽ nghiên cứu máy ngắm của súng 12,7mm, rồi tự chế tạo ra khung điểm đón cho A-72. Liên tiếp hai trận đánh, ông xin trung đội trưởng cho lắp khí tài tự chế, diệt 1 chiếc UH-1, 2 chiếc A-37. Cuối năm 1972, đồng chí Tuy (trợ lý A72 của Quân chủng) vào chiến trường tiếp nhận kinh nghiệm cải tiến của Trần Văn Xuân rồi giới thiệu cho chuyên gia Liên Xô, họ chấp nhận và cho cải tiến khí tài SA-7 gắn trên tàu hải quân.