Khác biệt giữa các bản “Tự Lực văn đoàn”

một vài chỉnh sửa nhỏ
(một vài chỉnh sửa nhỏ)
|colors = [[Đỏ]], [[trắng]], [[đen]]
}}
'''Tự Lực văn đoàn'''<ref>Mục từ "Tự lực văn đoàn" của GS. Nguyễn Huệ Chi (''Từ điển văn học'', bộ mới, tr. 1900) và bài viết "Thử định vị Tự lực văn đoàn" (của cùng tác giả, bản điện tử [http://boxitvn.blogspot.com/2012/09/ung-ngay-nay-80-nam-truoc-bao-phong-hoa.html]).</ref> ([[chữ Hán]]: 自力文團, [[tiếng Pháp]]: ''Groupe littéraire de ses propres forces'') là tên gọi chung của một trường phái văn học, một phong trào cách tân [[văn học Việt Nam|văn học]] (và trên nhiều lĩnh vực, đồng thời là một phong trào cách tân [[văn hóa]], cải cách xã hội) Việt Nam hiện đại, có khởi đầu là một tổ chức văn bút do Nhất Linh [[Nguyễn Tường Tam]] khởi xướng vào năm 1932,<ref>Theo lời kể của [[Tú Mỡ]], nhà văn Vu Gia dẫn lại trong ''Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học'', tr. 25-26.</ref> nhưng đến thứ sáu ngày 2 tháng 3 năm 1934 mới chính thức trình diện (theo tuần báo ''[[Phong Hóa]]'' số 87).<ref>Biên theo GS. [[Nguyễn Huệ Chi]] (''Từ điển văn học'', bộ mới, tr. 1899). Giáo sư cũng cho biết: "Lâu nay nhiều sách báo đã dựa vào tư liệu của [[Phạm Thế Ngũ]] trong ''Việt Nam văn học sử giản ước tân biên'' (tập 3, [[1965]]) và [[Thanh Lãng]] trong ''Bảng lược đồ văn học Việt Nam'' (quyển hạ, tr. 624), ghi ngày tuyên bố thành lập Tự Lực văn đoàn là [[2 tháng 3]] năm [[1933]] (báo Phong Hóa số 87). Tuy nhiên, sau khi kiểm tra, thì thấy số báo ấy ra ngày [[2 tháng 3]] năm '''[[1934]]'''. Nhận ra sai sót của mình, nên trong cuốn ''Phê bình văn học thế hệ 1932'' (quyển 1, Phong trào văn học, Sài Gòn, 1973; tr. 27-29), chính Thanh Lãng đã điều chỉnh lại (''Thử định vị Tự lực văn đoàn'' [http://boxitvn.blogspot.com/2012/09/ung-ngay-nay-80-nam-truoc-bao-phong-hoa.html]). Xem thêm thông tin trong bài viết "Chia sẻ miễn phí báo Phong Hóa - Ngày Nay" của Lam Điền trên website ''báo Tuổi Trẻ'' ra ngày 26 tháng 9 [http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/512229/Chia-se-mien-phi-bao-Phong-Hoa---Ngay-Nay.html].</ref> So với những nhóm sáng tác thơ văn từng tồn tại trước đó trong lịch sử Việt Nam (chẳng hạn như [[Tao đàn nhị thập bát tú]], [[Tao đàn Chiêu Anh Các]], [[Tùng Vân thi xã]]) hay một vài nhóm sáng tác văn học tư nhân đương thời với Tự Lực văn đoàn thì chỉ có nhóm Tự Lực mới hội tụ gần như đầy đủ tất cả những đặc tính cơ bản của một trường phái văn học hay một văn phái theo định nghĩa nghiêm ngặt của từ này. Đây là thứ khác biệt rõ ràng giữa Tự Lực văn đoàn với một vài nhóm sáng tác văn học Việt Nam ra đời trước họ và được gọi là văn phái như [[Ngô gia văn phái|Ngô gia “văn phái”]] hay [[Hồng Sơn văn phái|Hồng Sơn “văn phái”]]. Bởi vì Tự lực văn đoàn có tính tổ chức cao, năng lực tự túc tài chính tương đối cao, cương lĩnh hoạt động, tuyên ngôn tư tưởng rõ ràng, quy chế thành viên tương đối chặt chẽ. Ngay cả [[Sáng Tạo (nhóm văn nghệ)|nhóm văn nghệ 'Sáng Tạo']] (với những thành viên chủ chốt như [[Trần Thanh Hiệp]], [[Doãn Quốc Sỹ]], [[Nguyễn Sỹ Tế]], [[Mai Thảo]], [[Thanh Tâm Tuyền]], [[Tô Thùy Yên]]) một thời nổi tiếng tại [[Việt Nam Cộng hòa|miền Nam trong giai đoạn cuối thập niên 1950 đầu thập niên 1960]] hay một vài nhóm sáng tác thơ văn tư nhân ra đời sau này cũng chưa có nhóm nào cho tới nay từng vươn tới mức độ ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử văn hóa Việt Nam nói chung như Tư Lực văn đoàn đã tạo nên trong khoảng chưa đầy một thập kỷ hoạt động ngắn ngủi nhưng sôi nổi, đa dạng của họ (1932–1942). Và một thực tế lịch sử nữa là chưa từng có nhóm sáng tác văn học nào ở Việt Nam từ trước tới nay thu hút giới nghiên cứu phê bình một cách toàn diện như Tự Lực văn đoàn. Đối tượng nghiên cứu ở đây không chỉ là sự nghiệp sáng tác của từng thành viên cụ thể trong nhóm mà còn là thành tựu sáng tác, phong cách viết, lịch sử hoạt động của cả văn đoàn nói chung (xem chi tiết ở mục “Tài liệu nghiên cứu, phê bình về Tự Lực văn đoàn” trong phần cuối bài viết).
 
Nhiều nhà nghiên cứu cho đến nay (bao gồm [[Vu Gia]]) xem Tự Lực văn đoàn là tổ chức tư nhân làm văn chương và sống bằng văn chương (viết văn cũng như làm báo chí) một cách thực sự chuyên nghiệp và hiện đại đầu tiên ở Việt Nam. Họ là những người “tự lực” theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của tên gọi văn đoàn. Dù thu nhập của họ có thể không cao hơn bao nhiêumấy so với mặt bằng trung bình của xã hội Việt Nam thời đó nhưng họ không cần phải qua con đường khoa cử thời cũ để tiến thân như cha ông họ cách đó chừng một thế hệ (so sánh với trường hợp của [[Tú Xương]]), cũng không cần nhờ vào hỗ trợ tài chính của chính quyền bảo hộ Pháp (như trường hợp [[Phạm Quỳnh]]) và cũng không đến nỗi phải sống lay lắt với nghiệp văn chương như thế hệ giao thời trước họ không lâu (như trường hợp [[Tản Đà]] “khi làm chủ báo, lúc viết mướn, hai chục năm dư cảnh khốn cùng”). So với những nhóm sáng tác thơ văn từng tồn tại trước đó trong lịch sử Việt Nam (chẳng hạn như [[Tao đàn nhị thập bát tú]], [[Tao đàn Chiêu Anh Các]], [[Tùng Vân thi xã]]) hay một vài nhóm sáng tác văn học tư nhân đương thời với Tự Lực văn đoàn thì chỉ có nhóm Tự Lực mới hội tụ gần như đầy đủ tất cả những đặc tính cơ bản của một trường phái văn học hay một văn phái theo định nghĩa nghiêm ngặt của từ này. Đây là thứ khác biệt rõ ràng giữa Tự Lực văn đoàn với một vài nhóm sáng tác văn học Việt Nam ra đời trước họ và được gọi là văn phái như [[Ngô gia văn phái|Ngô gia “văn phái”]] hay [[Hồng Sơn văn phái|Hồng Sơn “văn phái”]]. Bởi vì Tự lực văn đoàn có tính tổ chức cao, năng lực tự túc tài chính tương đối cao, cương lĩnh hoạt động, tuyên ngôn tư tưởng rõ ràng, quy chế thành viên tương đối chặt chẽ. Ngay cả [[Sáng Tạo (nhóm văn nghệ)|nhóm văn nghệ 'Sáng Tạo']] (với những thành viên chủ chốt như [[Trần Thanh Hiệp]], [[Doãn Quốc Sỹ]], [[Nguyễn Sỹ Tế]], [[Mai Thảo]], [[Thanh Tâm Tuyền]], [[Tô Thùy Yên]]) một thời nổi tiếng tại [[Việt Nam Cộng hòa|miền Nam trong giai đoạn cuối thập niên 1950 đầu thập niên 1960]] hay một vài nhóm sáng tác thơ văn tư nhân ra đời sau này cũng chưa có nhóm nào cho tới nay từng vươn tới mức độ ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử văn hóa Việt Nam nói chung như Tư Lực văn đoàn đã tạo nên trong khoảng chưa đầy một thập kỷ hoạt động ngắn ngủi nhưng sôi nổi, đa dạng của họ (1932–1942). Và một thực tế lịch sử nữa là chưa từng có nhóm sáng tác văn học nào ở Việt Nam từ trước tới nay thu hút giới nghiên cứu phê bình một cách toàn diện như Tự Lực văn đoàn. Đối tượng nghiên cứu ở đây không chỉ là sự nghiệp sáng tác của từng thành viên cụ thể trong nhóm mà còn là thành tựu sáng tác, phong cách viết, lịch sử hoạt động của cả văn đoàn nói chung (xem chi tiết ở mục “Tài liệu nghiên cứu, phê bình về Tự Lực văn đoàn” trong phần cuối bài viết).
 
Một đặc điểm quan trọng không nên bỏ qua khi nghiên cứu về Tự Lực văn đoàn là hầu hết những thành viên trụ cột của nhóm như [[Nhất Linh]] Nguyễn Tường Tam, [[Khái Hưng]] Trần Khánh Giư, [[Hoàng Đạo (nhà văn)|Hoàng Đạo]] Nguyễn Tường Long, [[Thạch Lam]] Nguyễn Tường Lân (nếu không kể thêm [[Trần Tiêu]], em ruột Khái Hưng) đều có gốc gác [[xứ Đông]] (một tiểu vùng văn hóa cổ mà vành đai trung tâm nằm trong hai tỉnh thành Hải Dương và Hải Phòng ngày nay, ngoài ra cũng bao gồm một phần của Hưng Yên và Quảng Ninh).<ref>Dương Kiều Minh, ''[http://vnca.cand.com.vn/doi-song-van-hoa/Den-voi-cai-noi-cua-Tu-luc-van-doan-325890/ Đến với “cái nôi” của Tự lực văn đoàn]''. (Báo Công an nhân dân điện tử, 11/08/2008)</ref><ref>Xuân Ba, ''[https://www.tienphong.vn/xa-hoi-phong-su/ve-cam-giang-tim-dau-tu-luc-van-doan-596431.tpo Về Cẩm Giàng tìm dấu Tự Lực Văn Đoàn]''. (Báo điện tử Tiền Phong, 21/10/2012)</ref><ref>Đỗ Phú Thọ, ''[https://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/doi-song-van-hoa/tu-hao-la-dan-vinh-bao-546209 Tự hào là dân Vĩnh Bảo]''. (Báo điện tử Quân đội nhân dân, 07/08/2018)</ref><ref>Hoàng Giang, ''[https://baophapluat.vn/nhip-song-hom-nay/hai-duong-sap-nhap-thi-tran-cam-giang-co-lam-mat-di-thi-tran-van-chuong-460269.html Hải Dương: Sáp nhập thị trấn Cẩm Giàng có làm mất đi “thị trấn văn chương”?]''. (Báo Pháp luật Việt Nam, 8/7/2019)</ref> Những thành tựu của Tự Lực văn đoàn vì thế cũng có thể xem là những đóng góp nổi bật của văn học xứ Đông trong lịch sử văn chương Việt Nam. Trước đó, từng có một thời kỳ — thời kỳ [[văn hóa Lê-Mạc]] (1428–1592) — mà xứ Đông đóng vai trò tiên phong dẫn đường đối với việc sáng tạo thơ văn Việt Nam, với những đại diện tiêu biểu như [[Nguyễn Trãi]], [[Nguyễn Dữ]] (cũng đôi khi được gọi là [[Nguyễn Dư]]), [[Nguyễn Bỉnh Khiêm]]. Cần nhớ rằng việc sáng tác thơ văn bằng [[chữ Nôm]] của người Việt đã có những bước đi chập chững đáng ghi nhận ở [[văn hóa Lý-Trần|thời kỳ Lý-Trần]] (1009–1400) nhưng chỉ thực sự tạo ra những bước đột phá vững chắc đầu tiên trong [[văn hóa Lê-Mạc|thời đại Lê-Mạc]] với 2 tập [[thơ Việt Nam|thơ Nôm]] của các tác gia gốc xứ Đông là ''[[Quốc âm thi tập]]'' của Nguyễn Trãi và ''[[Bạch Vân quốc ngữ thi tập]]'' của Nguyễn Bỉnh Khiêm.<ref>Bùi Duy Dương, ''[http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=1698&Catid=766 Thành ngữ gốc Hán trong ba kiệt tác thơ Nôm]''. (Tạp chí Hán Nôm, Số 5 [96], 2009)</ref><ref>Nguyễn Kim Châu, ''[http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3907:s-phat-trin-ca-ting-vit-vn-hc-th-k-xvi-qua-cai-nhin-i-sanh-gia-qquc-am-thi-tpq-ca-nguyn-trai-vi-qbch-van-quc-ng-thi-tpq-ca-nguyn-bnh-khiem&catid=63:vn-hc-vit-nam&Itemid=106&lang=vi Sự phát triển của tiếng Việt văn học thế kỷ XVI qua cái nhìn đối sánh giữa "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi với "Bạch Vân quốc ngữ thi" của Nguyễn Bỉnh Khiêm]''. (Tạp chí Khoa học, Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, [[Trường Đại học Cần Thơ]], 2012)</ref> Bởi vậy nếu so sánh không quá khập khiễng, với tư cách là các tác gia xứ Đông ưu tú trong lịch sử sáng tác thơ văn của người Việt Nam, vai trò của những thành viên trụ cột của Tự Lực văn đoàn (đặc biệt là Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam) trong việc định hình một nền [[văn xuôi]] (đặc biệt là về [[tiểu thuyết]]) [[tiếng Việt]] sử dụng [[chữ Quốc ngữ]] ở thời kỳ hiện đại là không ít quan trọng hơn mấy so với vai trò của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong việc tạo dựng một nền [[thơ Việt Nam|thơ ca tiếng Việt]] [[:Thể loại:Văn học chữ Nôm|sử dụng chữ Nôm]] [[:Thể loại:Văn học trung đại Việt Nam|ở thời kỳ trung đại]].<ref>Nhà nghiên cứu văn hóa [[Vũ Khiêu]] trong bài viết “[http://ios.vass.gov.vn/noidung/tapchi/Documents/Baitapchi/TCXHH1986/So1/So1_1986_VuKhieu3.pdf Kỷ niệm 400 năm ngày mất của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Những vấn đề khoa học trong nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm]” (1985) đã có đánh giá mang tính tổng kết về những đóng góp quan trọng của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như Nguyễn Trãi trong dòng chảy của lịch sử thơ văn Việt Nam: “...Trước hết, phải thấy rằng suốt bao nhiêu thế kỷ học chữ Hán và làm thơ bằng [[chữ Hán]], các nhà trí thức Việt Nam trước những khó khăn về ngôn từ và thể loại đã lẩn tránh việc cố gắng làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ. Trước sự sáng tạo của [[Hàn Thuyên|Nguyễn Thuyên]], sự quan tâm đặc biệt của Nguyễn Trãi, thành quả bước đầu của [[Lê Thánh Tông]] và [[Tao đàn Nhị thập bát Tú|nhóm Tao Đàn]], Nguyễn Bỉnh Khiêm đã suốt cuộc đời dành bao tâm huyết để làm thơ bằng tiếng Việt. Không chỉ nói với đồng bào mình những điều muốn nói. Ông cũng như Nguyễn Trãi đã đem hết nhiệt tình xây dựng nền văn học dân tộc mà lòng yêu nước và óc tự cường đã hằng ngày thôi thúc các ông. Với một di sản lớn lao mà ông để lại, thơ Nôm của ông đã đánh dấu một chặng đường quang vinh trong lịch sử văn học Việt Nam. Thơ văn ông vừa mang những nét mộc mạc và rắn chắc của thơ Nguyễn Trãi, vừa tiếp thu truyền thống trau chuốt và nhuần nhuyễn của thơ Lê Thánh Tông và nhóm Tao Đàn. Thơ của ông chính là sự chuẩn bị cần thiết cho sự phát triển rực rỡ của thơ Nôm thế kỷ XVIII. Có lẽ đầy lòng tự hào về tinh hoa và tiềm năng của dân tộc trong thơ ca dân gian Việt Nam mà ông đã đưa vào tràn ngập trong thơ ông những lời đẹp nhất của ca dao, tục ngữ. Thơ của ông hướng vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân mà ông gần gũi và yêu quý. Có lẽ vì thế mà thơ Nôm của ông ít những lời sáo rỗng về phong, hoa, tuyết, nguyệt, mà lại đi vào lòng người với những nét rất thân thương của những đồ đạc, những rau cỏ, những chim muông gặp gỡ hằng ngày... Phải chăng vì gần gũi với đời sống như thế, ông đã thuộc tên từ cụ già đến trẻ em, đi vào niềm vui và nỗi lo của từng người, và từ đó đưa vào thơ một tính nhân dân sâu sắc...”</ref>
 
Trong khoảng 10 năm tồn tại, thông qua nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa mà Tự Lực văn đoàn đã thổi một luồng gió khai phóng vào xã hội [[Bắc Kỳ|Bắc]] [[Trung Kỳ]], ít nhiều thoát khỏi sự ràng buộc của những lề thói đã không còn thích ứng được với nhu cầu thời đại và tìm ra hướng tiếp cận xu thế hoàn cầu. Cho đến những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 đã có không ít nghiên cứu hệ thống, phê bình chuyên sâu, nhận định thẳng thắn của cả những nhà nghiên cứu trong nước và hải ngoại về vai trò lịch sử của Tự Lực văn đoàn.<ref>Nguyễn Công Lý, ''[http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/giao-duc/3612-vn-chng-t-lc-vn-oan-va-th-mi-trong-chng-trinh-trung-hc-mon-vn-min-nam-trc-nm-1975.html Văn chương Tự lực văn đoàn và thơ Mới trong chương trình trung học môn Văn ở miền Nam trước năm 1975]''. (Khoa Văn học và Ngôn ngữ - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. HCM, 30/10/2012). Nguyễn Công Lý (2012): "...Có thể đi đến kết luận văn chương Tự lực văn đoàn và Thơ Mới có một vai trò và vị trí quan trọng trong chương trình môn Văn trung học đệ nhất và đệ nhị cấp ở Miền Nam trước năm 1975. Trong khi đó, cùng thời gian này trong chương trình và sách giáo khoa ở Miền Bắc lại không hề nhắc đến; còn trong giáo trình Văn học sử giai đoạn 1930-1945 ở bậc đại học thì lại phê phán Tự Lực văn đoàn và Thơ Mới một cách gay gắt, nặng nề. Điều này có lý do tế nhị riêng của một thời đã qua. Rất may là từ sau 1986, nhất là từ 1990 đến nay, vấn đề này đã được nhìn nhận lại và các nhà nghiên cứu đã thống nhất khi đánh giá rất cao vai trò cùng đóng góp không nhỏ của văn chương Tự Lực văn đoàn và thơ Mới trong quá trình hiện đại hoá văn học dân tộc hồi nửa đầu thế kỷ XX."</ref><ref>Trần Hoài Anh, ''[https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19829 Tự lực văn đoàn trong cái nhìn của lý luận – phê bình văn học ở miền nam 1954 – 1975]'' (Vanchuongviet.org, 10/2/2013)</ref> Ở đây có thể dẫn ra tổng kết ngắn gọn của học giả danh tiếng [[Hoàng Xuân Hãn]] (đăng trên ''Tạp chí Sông Hương'', số 37, 1989) rằng trong lịch sử văn học Việt Nam thì "nhóm Tự Lực không phải là nhóm duy nhất nhưng là nhóm quan trọng nhất và là nhóm cải cách đầu tiên của nền văn học hiện đại." Nhà phê bình văn học [[Nguyễn Hưng Quốc]] (2013) nhận định về vai trò của nhóm không chỉ trong lịch sử văn học mà còn trong lịch sử văn hóa của Việt Nam nói chung: "Trong lịch sử Việt Nam, giới cầm bút ít có thói quen sinh hoạt theo nhóm... Nhìn lại văn học trung đại, từ cuối thế kỷ 19 trở về trước, chúng ta chỉ biết tên được một số tổ chức được gọi là tao đàn hay văn thi xã, như [[Tao đàn nhị thập bát tú]] của vua [[Lê Thánh Tông]] ở cuối thế kỷ 15, [[Tao đàn Chiêu Anh Các|Chiêu Anh Các]] của [[Mạc Thiên Tích|Mặc Thiên Tích]] ở thế kỷ 18, [[Mạc Vân thi xã |Tùng Vân thi xã]] của [[Tùng Thiện Vương]] ở thế kỷ 19. Chỉ có hai nhóm đầu là có quy mô lớn và hoạt động tương đối tích cực. Tao đàn Nhị thập bát tú có 28 hội viên, hoạt động chủ yếu theo lối xướng họa giữa vua và quần thần, để lại một tập thơ chung mang nhan đề ''Quỳnh uyển cửu ca''. Chiêu Anh Các có đến 72 hội viên và để lại bảy tác phẩm, vừa Hán vừa Nôm, trong đó, có ''Hà Tiên thập cảnh'', ''Hà Tiên vịnh vật thi tuyển'', ''Thu Đức Hiên tứ cảnh hồi văn'', ''Minh Bột du ngư thi thảo''…. Nhưng về tầm vóc, cả hai, so với Tự Lực Văn Đoàn, hoàn toàn không đáng kể. Có thể nói, không có nhóm văn học nào, của tư nhân, từ xưa cũng như đến tận ngày nay, có tổ chức chặt chẽ, hoạt động đa dạng và sôi nổi như nhóm Tự Lực Văn Đoàn cả. Về phương diện tổ chức, họ có hội viên, có quy định về việc kết nạp hội viên, và đặc biệt, có cả cương lĩnh hoạt động rõ ràng. Về hoạt động, họ bao trùm rất nhiều lãnh vực: văn học, xã hội (phong trào ''Ánh Sáng'') và về sau, từ năm 1939, cả chính trị nữa. Riêng trong lãnh vực văn học, họ không phải chỉ biết sáng tác mà còn ra báo (''Phong Hóa'' và ''Ngày Nay''), lập nhà xuất bản (''Đời Nay''), mở nhà in, và tổ chức các giải thưởng văn học. Trừ lãnh vực chính trị, trong mọi lãnh vực họ hoạt động, họ đều thành công rực rỡ. [[Trương Chính]] nhận định: “trong vòng tám năm, từ 1932 đến 1940, Tự Lực Văn Đoàn chiếm ưu thế tuyệt đối trên văn đàn công khai; sách báo họ in đẹp nhất, bán chạy nhất.” Chỉ với bảy người và chỉ trong khoảng một thời gian ngắn ngủi, họ làm được nhiều việc hơn bất cứ một nhóm văn học tư nhân nào khác trong cả lịch sử văn học Việt Nam từ trước đến nay... Đó không phải là nhóm lớn nhất hay quan trọng nhất trong “nền văn học hiện đại” hay trong giai đoạn 1930-1945 mà là trong suốt cả lịch sử kéo dài hơn một ngàn năm của văn học Việt Nam nói chung." Tuy nhiên đó cũng là "một nhóm văn học chịu nhiều oan khuất nhất trong nửa sau thế kỷ 20 như là hậu quả của những tranh chấp về chính trị và ý thức hệ tại Việt Nam trong suốt cả hai cuộc chiến tranh kéo dài từ 1945 đến 1975 cũng như cả giai đoạn gọi là “bao cấp” sau đó nữa... Với cả nhóm, cách đánh giá của giới nghiên cứu Việt Nam phần lớn vẫn còn khá rụt rè."<ref>[[Nguyễn Hưng Quốc]], ''[https://damau.org/28181/danh-gia-lai-tu-luc-van-doan Đánh giá lại Tự Lực Văn Đoàn]''. (Tạp chí văn chương Da Màu, 22/07/2013)</ref>
 
==Lịch sử==
:...Với năm đóng góp kể trên (hình thành lớp nhà văn kiểu mới; hoàn chỉnh thể loại tiểu thuyết; đưa [[Phong trào Thơ mới (Việt Nam)|phong trào Thơ mới]] đến toàn thắng; cổ vũ cho chủ nghĩa cá nhân và nâng tiếng Việt lên thành một ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt trong lãnh vực văn xuôi), không có gì đáng ngạc nhiên khi hầu hết những nhà phê bình và nghiên cứu công tâm từ trước đến nay đều nhìn nhận vị trí và vai trò của Tự Lực Văn Đoàn: thứ nhất, họ đều là những cây bút hàng đầu của Việt Nam trong suốt thế kỷ 20; thứ hai, họ là những người đi tiên phong và có công nhất trong nỗ lực hiện đại hóa văn học Việt Nam; và thứ ba, họ tạo được một nền tảng vững chắc trong cả hai lãnh vực, báo chí và văn học, trong văn học, gồm cả hai thể loại chính là truyện và thơ, để các thế hệ sau tiếp tục vun đắp. Sau này, một số nhà văn và nhà thơ đòi “chôn Thơ Mới” (như nhóm [[Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm|Nhân Văn Giai Phẩm]] ở miền Bắc vào giữa thập niên 1950) hay vượt qua Tự Lực Văn Đoàn (như [[Sáng Tạo (nhóm văn nghệ)|nhóm Sáng Tạo]] ở miền Nam), và thành thực mà nói, đã có một số người làm điều đó, hơn nữa, chúng ta cũng mong muốn càng ngày càng có nhiều người làm được điều đó, nhưng ngay cả như vậy, tất cả những người vượt qua được Tự Lực Văn Đoàn đều mắc nợ Tự Lực Văn Đoàn. Thế đứng cao ngất của họ được hình thành một phần, thậm chí, phần lớn, nhờ họ đứng trên đôi vai vạm vỡ và lực lưỡng của Tự Lực Văn Đoàn. Xin được nhấn mạnh: ngay cả khi bị vượt qua, tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn cũng còn lại và sẽ còn lại mãi. Những gì đã trở thành cổ điển thì không bao giờ bị mất đi cả. Thế hệ trẻ hiện nay có thể sẽ không còn say mê Tự Lực Văn Đoàn. Nhưng họ vẫn phải đọc Tự Lực Văn Đoàn. Không đọc Tự Lực Văn Đoàn là một thiệt thòi, ít nhất về phương diện kiến thức: người ta bị hụt mất một trong những mảng màu đẹp nhất và nổi bật nhất trong bức tranh văn học Việt Nam.
 
:...Đó là một nhóm văn học chịu nhiều oan khuất nhất trong nửa sau thế kỷ 20 như là hậu quả của những tranh chấp về chính trị và ý thức hệ tại Việt Nam trong suốt cả hai cuộc chiến tranh kéo dài từ 1945 đến1975đến 1975 cũng như cả giai đoạn gọi là “[[bao cấp]]” sau đó nữa... Với cả nhóm, cách đánh giá của giới nghiên cứu Việt Nam phần lớn vẫn còn khá rụt rè. Trong cuốn ''Về Tự Lực Văn Đoàn'', cuốn sách nghiên cứu đầu tiên về Tự Lực Văn Đoàn được xuất bản sau phong trào [[Đổi Mới]], Nguyễn Trác và Đái Xuân Ninh nhận định chung về Tự Lực Văn Đoàn: “Đóng góp ít, hạn chế nhiều”. Ngay cả [[Vương Trí Nhàn]], một nhà phê bình khá có thiện chí ở Hà Nội, trong cuốn ''Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hoá trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho tới 1945'' do NXB Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2005, cũng chỉ tập trung phân tích các tác giả như [[Nguyễn Công Hoan]], [[Ngô Tất Tố]], Thạch Lam, [[Nguyễn Tuân]], Vũ Trọng Phụng, [[Lê Văn Trương]], Nam Cao, Vũ Bằng, [[Dương Quảng Hàm]] và [[Đinh Gia Trinh]] chứ không hề có phần nào dành cho Nhất Linh và Khái Hưng cả. Đối với từng tác giả, trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, không kể những người sau năm 1945, theo [[Việt Minh]] và sau năm 1954, ở lại miền Bắc (như Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu), trong bốn người còn lại (Khái Hưng và ba anh em nhà Nguyễn Tường), Thạch Lam là người được xuất bản nhiều nhất và cũng là người được đánh giá một cách ưu ái nhất. Ngoài lý do truyện của Thạch Lam, nhất là truyện ngắn, có giá trị nghệ thuật cao còn hai lý do này nữa: thứ nhất, truyện ông thường đề cập đến người nghèo khổ, rất phù hợp với quan điểm giai cấp của đảng Cộng sản; và thứ hai, quan trọng hơn, ông mất sớm, từ năm 1942, hoàn toàn không tham gia vào chính trị và cũng không có ân oán gì với đảng Cộng sản. Riêng với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Khái Hưng, ba người từng công khai phát biểu cũng như hoạt động chống lại họ, trong đó có một người bị họ giết chết (Khái Hưng), cho đến nay, công việc tái bản sách của họ cũng như đánh giá về họ vẫn còn khá ít ỏi và dè dặt.
 
*[[Lại Nguyên Ân]] (''Tự lực văn đoàn, một "nhóm lợi ích" trong đời sống văn nghệ'', 2014):