Khác biệt giữa các bản “Adenozin triphotphat”

không có tóm lược sửa đổi
Phân tử ATP không ổn định trong nước [[Dung dịch đệm|không đệm]] và bị thủy phân thành [[Adenosine diphosphat|ADP]] và phosphate. Lý do là liên kết giữa các phần tử phosphate còn lại trong ATP yếu hơn liên kết hydro giữa [[Adenosine diphosphat|ADP]] và nước. Vì vậy, nếu ATP và [[adenosine diphosphate|ADP]] ở trong [[cân bằng hóa học]] trong nước, gần như toàn bộ ATP sẽ dần chuyển thành [[adenosine diphosphate|ADP]]. Một hệ thống hóa học ở xa khỏi cân bằng có chứa [[năng lượng tự do Gibbs]], và có khả năng sinh [[công (nhiệt động học)|công]]. Tế bào sống giữ tỉ lệ ATP trên [[adenosine diphosphate|ADP]] ở mức 10<sup>10</sup> lần mức cân bằng, với nồng độ ATP cao gấp một nghìn lần nồng độ [[adenosine diphosphate|ADP]]. Ở mức xa cân bằng như trên, khi bị thủy phân ATP giải phóng một lượng lớn năng lượng.
ATP thường được gọi là "phân tử năng lượng cao". Tuy nhiên, cách gọi này dễ đánh lạc hướng. Như tất cả phản ứng hóa học đã đạt đến cân bằng, một hỗn hợp ATP và [[adenosine diphosphate|ADP]] đã đạt đến cân bằng ổn định trong nước sẽ không dẫn đến thêm thủy phân tịnh của ATP. Nói chính xác hơn, ATP và nước giống như một hỗn hợp các chất phản ứng như xăng và chất oxi-hóa: cả hai phải có mặt mới có thế giải phóng năng lượng.
 
== Lịch sử nghiên cứu ==
 
Adenosine triphosphate lần đầu tiên được phân lập từ chiết xuất cơ bắp của [[K. Lohmann]] vào năm 1929 .  Nhưng vào năm 1941, [[Fritz Albert Lipmann]] cho rằng ATP là một phân tử sinh học chính cho phép lưu trữ và cung cấp năng lượng ngắn hạn trong các [[tế bào]].  ATP được [[Alexander Todd]] chuẩn bị nhân tạo lần đầu tiên vào năm 1948.  Năm 1949, [[Albert Szent-Györgyi]] cho thấy sự co cơ của các [[myofibrils]] bị cô lập có thể được tạo ra một cách nhân tạo khi bổ sung ATP. Vài năm sau, một thí nghiệm tương tự đã mô tả vai trò của ATP trong chuyển động lông mao .
 
==Tham khảo==
{{tham khảo}}
10

lần sửa đổi