Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
replaced: đấu tranh giai cấp → đấu tranh giai cấp (4) using AWB
| kết thúc 4 = [[2 tháng 9]] năm [[1969]]<br />{{số năm theo năm và ngày|1948|8|19|1969|9|2}}
| tiền nhiệm 4 = ''đầu tiên''
| kế nhiệm 4 = [[Tôn Đức Thắng]]
 
| chức vụ 3 = [[Tập tin:Coat of arms of Vietnam.svg|22px]]<br/>[[Thủ tướng Việt Nam|Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa]]
| phó chức vụ 6 =
| phó viên chức 6 =
| chức vụ 7 = [[Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam| Ủy viên Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam]]
| bắt đầu 7 = [[31 tháng 3]] năm [[1935]]
| kết thúc 7 = [[2 tháng 9]] năm [[1969]]<br>{{số năm theo năm và ngày|1935|3|31|1969|9|2}}
| phó chức vụ 7 =
| phó viên chức 7 =
| chức vụ 8 = [[Hội Chữ thập đỏ Việt Nam|Chủ tịch danh dự Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam]]<ref>[http://redcross.org.vn/redcross2/vn/home/InfoDetail.jsp?area=1&cat=1966&ID=17198 Lịch sử Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam], Trung ương Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam</ref>
| bắt đầu 8 = [[23 tháng 11]] năm [[1946]]
| kết thúc 8 = năm [[1969]]<br>{{số năm theo năm và ngày|1946|11|23|1969|9|2}}
Tháng 6 năm [[1923]], ông đến [[Moskva]] học tập tại [[trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông]], được đào tạo chính quy về [[Chủ nghĩa Marx]], tuyên truyền và khởi nghĩa vũ trang.<ref name=":0" /> Tại đây Nguyễn Ái Quốc đã dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân (họp từ ngày [[12 tháng 10|12]] đến ngày [[15 tháng 10]] năm [[1923]]), ông được bầu vào Ban Chấp hành và Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Tại Đại hội lần thứ 5 [[Đệ Tam Quốc tế]] (họp từ ngày [[17 tháng 6]] đến ngày [[8 tháng 7]] năm [[1924]]), ông được cử làm Ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.
 
Năm [[1924]], tại thành phố [[Moskva]], Nguyễn Ái Quốc viết và nộp cho tổ chức [[Đệ Tam Quốc tế]] một bản Báo cáo về tình hình Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Nhận thấy phong trào [[đấu tranh giai cấp]] tại [[Việt Nam]] có sự khác biệt với phong trào [[đấu tranh giai cấp]] bên [[Thế giới phương Tây|Tây phương]] đương thời, ông có nhận xét về các tầng lớp địa chủ, tăng lữ,... của Việt Nam như sau:
{{cquote|
''Những địa chủ ở đây chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở [[châu Âu]] và [[châu Mỹ]] (…). Không có vốn liếng gì lớn…, đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa","[[An Nam]] chưa bao giờ có tăng lữ…"''|||Nguyễn Ái Quốc<ref name="mqt"/>
Nguyễn Ái Quốc đến [[Moskva]] vào mùa xuân năm [[1934]]. Với bí danh '''Lin''', Nguyễn Ái Quốc học ở [[Trường Quốc tế Lenin]] ([[1934]]–[[1935]]). Sau đó dưới tên ''Linov'', ông dự Đại hội lần thứ 7 [[Đệ Tam Quốc tế]] (từ [[25 tháng 7]] đến [[20 tháng 8]] năm [[1935]]) với vai trò quan sát viên của Ban Thư ký Dalburo.<ref>Duiker, tr. 224.</ref> Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc bị Ban Lãnh đạo Hải ngoại của [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Cộng sản Đông Dương]] viết thư gửi [[Đệ Tam Quốc tế|Quốc tế Cộng sản]] kết tội phải chịu trách nhiệm chính về việc hơn 100 đảng viên của ''Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên'' bị bắt, do việc ông biết [[Lâm Đức Thụ]] trước đây là kẻ phản bội mà vẫn tiếp tục sử dụng.<ref>Ban thẩm tra vụ việc Nguyễn Ái Quốc ở Quốc tế Cộng sản, Bá Ngọc, ''Tạp chí Xưa và Nay'' số 438 tháng 10/2013, ISSN 868-331X, Hội Sử học Việt Nam, trang 4, trích ''"Một loạt dấu hỏi về vụ án [[Hương Cảng]]: Vì sao chịu án phạt nhẹ, bằng con đường nào để đến được [[Liên Xô]]… Đặc biệt bức thư của Ban Lãnh đạo Hải ngoại [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Cộng sản Đông Dương]] viết ngày [[20 tháng 4]] năm [[1935]] gửi [[Đệ Tam Quốc tế|Quốc tế Cộng sản]] cung cấp những thông tin cực kỳ nguy hiểm về Nguyễn Ái Quốc. Nội dung thư kết tội Nguyễn Ái Quốc phải chịu trách nhiệm chính về việc hơn một trăm đảng viên của Đảng Cách mạng Thanh Niên bị bắt do việc Nguyễn Ái Quốc biết [[Lâm Đức Thụ]] trước đây là kẻ phản bội mà vẫn tiếp tục sử dụng, Nguyễn Ái Quốc rất sai lầm khi yêu cầu mỗi học viên cung cấp hai ảnh, họ tên, địa chỉ, họ tên cha mẹ, ông bà nói chung những người sinh thành và địa chỉ chính xác của hai đến mười bạn thân. Những bức ảnh của các học viên do Nguyễn Ái Quốc và [[Lâm Đức Thụ]] yêu cầu đều vào tay mật thám. Ở trong nước, ở Xiêm, ở khắp các nhà tù người ta nói nhiều về trách nhiệm của Nguyễn Ái Quốc. Đường lối chính trị của Đảng Cộng sản do Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo trước đây bị phê bình gay gắt trong các đảng viên và quần chúng cách mạng. Đồng chí Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Xiêm – người học trò trung thành của Nguyễn Ái Quốc, một trong nhiều người nói rằng, trước năm [[1930]] Nguyễn Ái Quốc chưa phải là đảng viên Đảng Cộng sản. Trong thư còn nói về sai lầm của Nguyễn Ái Quốc khi hợp nhất các tổ chức cộng sản vào năm [[1930]], yêu cầu Nguyễn Ái Quốc trong thời gian gần nhất cần viết cuốn sách tự chỉ trích những sai lầm về chính trị của mình".''</ref> Ông bị buộc phải ở [[Liên Xô]] cho đến năm [[1938]], bị giam lỏng vì nghi ngờ lý do ông được nhà cầm quyền [[Hồng Kông]] trả tự do.<ref>Duiker, tr. 213.</ref> [[Đệ Tam Quốc tế|Quốc tế Cộng sản]] thành lập Ban Thẩm tra vì nghi ngờ sự trung thành chính trị của Nguyễn Ái Quốc nhưng không tìm ra chứng cứ cho thấy điều này, nên hồ sơ vụ việc đã được Ban Thẩm tra quyết định hủy bỏ.<ref>Ban Thẩm tra vụ việc Nguyễn Ái Quốc ở Quốc tế Cộng sản, Bá Ngọc, ''Tạp chí Xưa và Nay'' số 438 tháng 10/2013, ISSN 868-331X, Hội Sử học Việt Nam, trang 6, trích ''"Tháng 02-1936 Ban Thẩm tra được thành lập, lúc đầu, có hai ý kiến bút phê của lãnh đạo [[Đệ Tam Quốc tế|Quốc tế Cộng sản]]: Ý kiến 1, đề nghị Ban Thẩm tra có các đồng chí: 1. Manuinxki, 2. Krapxki, 3. Hải An, 4. Vương Minh, 5. Barixta, 6. Raimốp. Ý kiến 2, đề nghị gồm các đồng chí: 1. Cônxinna, 2. Hải An, 3. Krapxki, 4. Barixta, 5. Xtipannốp. Đến ngày 19-02-1936, do có nhiều lý do khác nhau, thành phần Ban Thẩm Tra chỉ có các đồng chí: Cônxinna, Hải An và Krapxki. Ban Thẩm tra nhóm họp và đi đến những kết luận chính như sau: 1. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã mắc một số sai lầm nghiêm trọng trong hoạt động bí mật. Ban Thẩm tra yêu cầu đồng chí từ nay không để xảy ra những trường hợp tương tự. Đề nghị đồng chí rút kinh nghiệm bài học này trong hoạt động bí mật sau này. 2. Ban Thẩm tra không tìm ra chứng cứ nghi ngờ nào về sự trung thành chính trị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. 3. Hồ sơ vụ việc về Nguyễn Ái Quốc được hủy bỏ. Bản kết luận đã được Krapxki và Hải An ký".''</ref> Sau đó, ông tham gia lớp nghiên cứu sinh Viện Nghiên cứu các Vấn đề Dân tộc và Thuộc địa của [[Đệ Tam Quốc tế|Quốc tế Cộng sản]].<ref>Ban thẩm tra vụ việc Nguyễn Ái Quốc ở Quốc tế Cộng sản, Bá Ngọc, ''Tạp chí Xưa và Nay'' số 438 tháng 10/2013, ISSN 868-331X, Hội Sử học Việt Nam, trang 6, trích ''"Sau kết luận của Ban Thẩm tra, tưởng chừng vụ việc Nguyễn Ái Quốc đã được giải quyết xong. Nào ngờ, đến tháng 01-1938, khi Nguyễn Ái Quốc tham gia lớp nghiên cứu sinh Viện Nghiên cứu Các Vấn đề Dân tộc và Thuộc địa, ban lãnh đạo Viện đề nghị Vụ Tổ chức Cán bộ [[Đệ Tam Quốc tế|Quốc tế Cộng sản]] xác minh việc Nguyễn Ái Quốc ra khỏi tù và vào [[Liên Xô]] như thế nào. Trong thư trả lời Viện Nghiên cứu, Vụ Tổ chức Cán bộ khẳng định: Để giải quyết vụ việc Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Ban Thẩm tra và đi đến kết luận về sự trung thành chính trị của Nguyễn Ái Quốc; đồng thời đồng chí Radumopva đã trực tiếp gặp Vaillant Couturier và được khẳng định chuyến trở về [[Liên Xô]] là do Vaillant tổ chức; hồ sơ vụ việc Nguyễn Ái Quốc đã được Ban Thẩm tra quyết định hủy bỏ. Sau đó, Nguyễn Ái Quốc mới được tiếp nhận làm nghiên cứu sinh Viện Nghiên cứu Các Vấn đề Dân tộc và Thuộc địa.''"</ref>
 
Trong những năm [[1931]]–[[1935]], Nguyễn Ái Quốc bị [[Trần Phú]] và sau đó là [[Hà Huy Tập]] phê phán về đường lối cải lương "liên minh với tư sản và địa chủ vừa và nhỏ", không đúng đường lối [[đấu tranh giai cấp]] của [[Đệ Tam Quốc tế]].<ref>Sophie Quinn-Judge, ''Ho Chi Minh, the missing years, 1919-1941'', 2002, C. Hurst & Co, tr. 253.</ref><ref>Duiker, tr. 218.</ref> Trong một bức thư gửi cho tổ chức [[Đệ Tam Quốc tế]] vào tháng 3 năm [[1935]] với nội dung kể về phong trào cách mạng tại [[Đông Dương]], Nguyễn Ái Quốc đã bị phê phán nặng nề. Bức thư này có ghi nhận về ''"tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương, [[chủ nghĩa duy tâm]] của đảng của các đồng chí ''Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên'' và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc"''. Trong thư này cũng có đoạn: ''"Những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển [[chủ nghĩa cộng sản]]. Cuộc tranh đấu không nhân nhượng chống những học thuyết cơ hội này của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và của Đảng Thanh niên là rất cần thiết (…). Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin viết một cuốn sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua"''.<ref name="mqt">[http://phapluattp.vn/20100517023132446p0c1013/tinh-than-dan-toc-o-chu-tich-ho-chi-minh.htm Tinh thần dân tộc ở Chủ tịch Hồ Chí Minh], có dẫn nguồn ''Hồ Chí Minh - Con người của Sự sống'', GS-TS Mạch Quang Thắng, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009</ref>
 
Sở dĩ có việc phê phán này là do bất đồng giữa Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí của ông về các lực lượng tham gia, cần tranh thủ trong hoạt động cách mạng, dẫn đến suy nghĩ cho rằng Nguyễn Ái Quốc ưu tiên giải phóng dân tộc hơn là [[đấu tranh giai cấp]]. Vào thời điểm đó, [[Đệ Tam Quốc tế|Quốc tế Cộng sản]] dưới sự lãnh đạo của [[Iosif Vissarionovich Stalin|Stalin]], đặt đấu tranh giải phóng dân tộc đi cùng với [[đấu tranh giai cấp]].
 
Trong giai đoạn này, [[Trần Phú]], [[Lê Hồng Phong]], [[Hà Huy Tập]] lần lượt làm [[Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Tổng Bí thư]] [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Cộng sản Đông Dương]] còn Hồ Chí Minh chỉ đảm nhiệm công tác liên lạc giữa [[Đệ Tam Quốc tế|Quốc tế Cộng sản]] và các đảng cộng sản tại [[Đông Nam Á]].<ref>[http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2013/09/130925_ho_chi_minh_vu_thu_hien.shtml 'Tác phẩm giả tưởng' về Hồ Chí Minh], Vũ Thư Hiên, BBC tiếng Việt, thứ tư, 25 tháng 9 năm 2013.</ref>
Ngày [[13 tháng 8]] năm [[1942]], ông lấy tên '''Hồ Chí Minh''', sang [[Trung Quốc]] với danh nghĩa đại diện của cả [[Việt Minh]] và Hội Quốc tế Phản Xâm lược Việt Nam (một hội đoàn được ông tổ chức ra trước đó) để tranh thủ sự ủng hộ của [[Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949)|Trung Hoa Dân quốc]]. Đây là lần đầu tiên trong các giấy tờ cá nhân ông sử dụng tên Hồ Chí Minh, và khai nhân thân là "Việt Nam-Hoa kiều".<ref>Theo ''Bác Hồ - hồi ký'', Nhà Xuất bản Văn học, 2004, tấm danh thiếp mà ông sử dụng có dòng giữa được ghi tên "Hồ Chí Minh", một bên ghi "Tân văn ký giả" (tức là Nhà báo), một bên ghi "Việt Nam-Hoa kiều".</ref>
 
Hồ Chí Minh bị chính quyền địa phương của [[Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949)|Trung Hoa Dân quốc]] bắt ngày [[29 tháng 8]] khi đang đi cùng một [[Người Hán|người Trung Quốc]] dẫn đường và bị giam hơn một năm, trải qua khoảng 30 nhà tù. Ông viết ''[[Nhật ký trong tù]]'' trong thời gian này (từ [[tháng tám|tháng 8]] năm [[1942]] đến [[tháng chín|tháng 9]] năm [[1943]]). ''[[Nhật ký trong tù|]]''Nhật ký trong tù'']] là một tác phẩm được những tác giả [[Các dân tộc tại Việt Nam|người Việt Nam]], người phương Tây và cả [[người Trung Quốc]], như [[Quách Mạt Nhược]], [[Viên Ưng]] hay [[Hoàng Tranh]] đề cao.<ref>[http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2005/05/050520_nhatkytrongtu.shtml Tìm hiểu cuốn Ngục Trung Nhật Ký - BBC Tiếng Việt]</ref> Các đồng chí của ông ([[Phạm Văn Đồng]], [[Võ Nguyên Giáp]], [[Vũ Anh]]...) ở [[Việt Nam]] tưởng lầm là ông đã chết (sau này nguyên nhân được làm rõ là do một cán bộ [[Đảng Cộng sản]] tên ''Cáp'' đã nghe và hiểu sai ngữ nghĩa).<ref>Theo ''Bác Hồ - hồi ký'', phần của [[Võ Nguyên Giáp]] và phần của Vũ Anh, trang 268, 218 thì [[Võ Nguyên Giáp]] cho rằng: "có lẽ anh Cáp đã nghe lầm 'sư tờ, sư tờ' (nghĩa là 'phải, phải') thành 'xử la, xử la' (nghĩa là 'chết rồi')". Vũ Anh cho rằng: "đồng chí Cáp nghe nhầm câu 'người đi cùng ông ấy chết rồi' (Hồ Chí Minh khi bị bắt có đi cùng một [[người Trung Quốc]] làm nhiệm vụ dẫn đường) thành 'ông ấy chết rồi'".</ref> Họ thậm chí đã tổ chức đám tang và đọc điếu văn cho ông ([[Phạm Văn Đồng]] làm văn điếu) cũng như ''"mở chiếc va-li mây của Bác ra tìm xem còn những gì có thể giữ lại làm kỉ niệm"'' (lời của [[Võ Nguyên Giáp]]). Vài tháng sau họ mới biết được tình hình thực của ông sau khi nhận được thư do ông viết và bí mật nhờ chuyển về.
 
Ngày [[25 tháng 10]] năm [[1943]], Hội Quốc tế Chống Xâm lược ở [[Đông Dương]] gửi 2 bức thư, một cho Đại sứ Mỹ tại [[Trung Quốc]], bức còn lại cho Thống chế [[Tưởng Giới Thạch]] đề nghị can thiệp trả tự do cho Hồ Chí Minh, đồng thời đại diện của [[Đảng Cộng sản Trung Quốc]] ở [[Trùng Khánh]] đã tiếp xúc bí mật với các sĩ quan [[Cơ quan Tình báo chiến lược|OSS]] ([[Cơ quan Tình báo chiến lược]], Mỹ) và [[SACO]] để gợi ý rằng có thể khiến Hồ Chí Minh hợp tác với phe [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]].<ref>Why Vietnam?, Archimedes L.A.Patti, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, năm 2008, trang 108, 112.</ref> Sau khi thảo luận với Đại sứ quán Mỹ tại [[Trung Quốc]], OSS và cơ quan ngoại giao Mỹ thương lượng với chính phủ [[Trung Hoa Dân quốc]] để giải thoát Hồ Chí Minh khỏi nhà tù và thuyết phục ông cộng tác với OSS.<ref name="Patti113">Why Vietnam?, Archimedes L.A.Patti, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, năm 2008, trang 113.</ref> Cùng lúc đó [[Trương Phát Khuê]], tướng cai quản vùng [[Quảng Đông]] và [[Quảng Tây]] của [[Trung Quốc Quốc Dân Đảng|Quốc Dân Đảng]] cũng gây áp lực để buộc ông Hồ hoạt động cho Quốc dân Đảng.<ref name="Patti113"/> Hồ Chí Minh được trả tự do ngày [[10 tháng 9]] năm [[1943]], theo yêu cầu của [[Hoa Kỳ]].<ref name="nytimes%2Ecom"/> Có nguồn khác nói rằng tướng [[Trương Phát Khuê]] quyết định trả tự do cho Hồ Chí Minh nhằm lợi dụng ông và một số chính trị gia Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc ở miền Nam Trung Quốc chống [[Đế quốc Nhật Bản|phát xít Nhật]].<ref name="taybacuniversity%2Eedu%2Evn">[https://archive.is/20130506154933/www.taybacuniversity.edu.vn:8080/fhg/index.php?option=com_content&view=article&id=333:quan-h-vit-m-1944-1945&catid=25:hot-ng-nghien-cu-khoa-hc-ca-khoa-s-a Quan hệ Việt - Mỹ (1944-1945)<!-- Bot generated title -->]</ref> Trương Phát Khuê hy vọng Hồ Chí Minh có thể thống nhất và tổ chức lại các nhóm người Việt lưu vong ở miền Nam Trung Quốc thành một khối thuần nhất thân [[Trung Quốc]] mà sự chia rẽ, chống đối về phương pháp tiến hành đấu tranh và sự tranh giành quyền lực giữa lãnh tụ của các nhóm này đã che lấp mất mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc của họ đồng thời để chấn chỉnh [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội]] (Việt Cách) do Trung Quốc đỡ đầu.<ref>Why Vietnam?, Archimedes L.A Patti, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 113, 114.</ref>
 
====Quốc tế====
[[File: Chủ tịch Hồ Chí Minh.jpg | nhỏ | Chân dung màu của Chủ tịch Hồ Chí Minh]]
 
Tại các quốc gia khác cũng có các nhà lưu niệm về Hồ Chí Minh,<ref>{{Chú thích web|url=http://quangnam.gov.vn/CMSPages/BaiViet/Default.aspx?IDBaiViet=6623|tiêu đề=Tượng đài và các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên thế giới|ngày truy cập = ngày 25 tháng 6 năm 2011}}</ref> chẳng hạn như ở [[Pháp]]<ref>{{Chú thích web|url=http://thethao.tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/398930/%E2%80%9CKhong-gian-Ho-Chi-Minh%E2%80%9D-o-Paris.html|tiêu đề="Không gian Hồ Chí Minh" ở Paris|ngày truy cập = ngày 25 tháng 6 năm 2011 |url lưu trữ=https://archive.is/JpVYr|ngày lưu trữ = ngày 27 tháng 6 năm 2013}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://old.vtv.vn/Article/Get/Khong-gian-Ho-Chi-Minh-o-Phap-77f3c89e2a.html|tiêu đề= "Không gian Hồ Chí Minh" trên đất Pháp|ngày truy cập = ngày 25 tháng 6 năm 2011}}</ref> hoặc [[Anh]] (khách sạn Carlton – nơi Hồ Chí Minh từng cào [[tuyết]] kiếm sống - được gắn 1 tấm bảng kỷ niệm ông), [[Thái Lan]] (nhà lưu niệm Hồ Chí Minh do [[Việt kiều]] tại đây quyên góp xây dựng).