Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Cách mạng Công nghiệp”

Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
Thay cả nội dung bằng “edggewfdfdsdsfsfsdfđfs Thể loại:Lịch sử công nghệ Thể loại:Lịch sử công n…”
Thẻ: Thay thế nội dung Tẩy trống trang (hoặc lượng lớn nội dung) Soạn thảo trực quan
n Đã lùi lại sửa đổi của 14.237.150.183 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của TuanminhBot
Thẻ: Lùi tất cả
Dòng 1:
{{1000 bài cơ bản}}[[Tập tin:Maquina vapor Watt ETSIIM.jpg|nhỏ|300px|Mô hình [[động cơ hơi nước]] của [[James Watt]]. Sự phát triển [[máy hơi nước]] khơi mào cho cuộc cách mạng công nghiệp Anh.]]
edggewfdfdsdsfsfsdfđfs
'''Cách mạng công nghiệp''' hay còn gọi là '''Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất''' là cuộc [[cách mạng]] trong lĩnh vực [[sản xuất]]; là sự thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế xã hội, [[văn hóa]] và [[công nghệ|kỹ thuật]], xuất phát từ [[anh|nước Anh]] sau đó lan tỏa ra toàn [[thế giới]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www.bbc.co.uk/history/scottishhistory/enlightenment/features_enlightenment_industry.shtml|tiêu đề=Features enlightenment industry, BBC history}}</ref> Trong thời kỳ này, nền kinh tế giản đơn, quy mô nhỏ, dựa trên lao động chân tay được thay thế bằng [[công nghiệp]] và chế tạo máy móc quy mô lớn. Tên gọi "Cách mạng công nghiệp" thường dùng để chỉ giai đoạn thứ nhất của nó diễn ra ở cuối [[thế kỷ 18]] và đầu [[thế kỷ 19]]. Giai đoạn hai hay còn gọi là [[Cách mạng công nghiệp lần thứ hai]] tiếp tục ngay sau đó từ nửa sau [[thế kỷ 19]] đến đầu [[thế kỷ 20]]. Ảnh hưởng của nó diễn ra ở [[Tây Âu]] và [[Bắc Mỹ]] trong suốt [[thế kỷ 19]] và sau đó là toàn [[thế giới]].
 
Ý kiến về thời gian diễn ra [[Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất]] không thống nhất, nhưng nói chung là ở nửa cuối [[thế kỷ 18]] đến nửa đầu [[thế kỷ 19]]. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bắt đầu với sự phát triển sản xuất hàng hóa của ngành công nghiệp dệt.<ref>David S. Landes (1969). ''The Unbound Prometheus''. Press Syndicate of the University of Cambridge. p. 40. <nowiki>ISBN 0-521-09418-6</nowiki>.</ref> Sau đó, với nhu cầu cung cấp máy móc và năng lượng cho công nghiệp dệt, các kỹ thuật gia công sắt thép được cải thiện và than đá sử dụng với khối lượng lớn. [[Thương mại]] mở rộng tạo điều kiện cho sự ra đời của [[kênh đào|kênh đào giao thông]] và [[đường ray|đường sắt]]. Bên cạnh đó, [[đường giao thông]] được nâng cấp lớn cho hoạt động giao thương nhộn nhịp. [[Động cơ hơi nước]] sử dụng nhiên liệu than và máy móc dẫn động bằng cơ khí đã đưa đến gia tăng năng suất lao động đột biến. Sự phát triển các máy công cụ trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ 19 tạo thuận lợi cho lĩnh vực chế tạo máy, phục vụ những ngành sản xuất khác.
 
[[Cách mạng công nghiệp lần thứ hai]] bắt đầu vào khoảng thập kỷ 1860, khi các tiến bộ kinh tế và kỹ thuật có được nhờ phát triển điện tín, điện thoại, đường sắt và việc áp dụng dây chuyền sản xuất hàng loạt. Đến cuối thế kỷ 19, động lực của Cách mạng công nghiệp lần 2 chủ yếu là [[động cơ đốt trong]] và máy móc sử dụng [[điện]]. Năm 1914, năm bắt đầu [[Chiến tranh thế giới thứ nhất|Thế chiến thứ nhất]], giai đoạn thứ hai này kết thúc.
 
[[Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba]] bắt đầu khoảng 1960, khi có các tiến bộ về hạ tầng điện tử, máy tính và công nghệ kĩ thuật số trên nền tảng là sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), [[máy tính cá nhân]] (thập niên 1970 và 1980) và [[Internet]] (thập niên 1990). Cho đến cuối thế kỷ 20, quá trình này cơ bản hoàn thành nhờ những thành tựu khoa học công nghệ cao. Năm [[1997]], khi cuộc [[Khủng hoảng tài chính châu Á 1997|khủng hoảng tài chính châu Á]] nổ ra là bước đánh dấu giai đoạn thứ ba kết thúc.
 
[[Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư]]<ref>Compare: [[:en:Klaus Schwab|Schwab, Klaus]] (2017) [2016]. [https://books.google.com.vn/books?id=ST_FDAAAQBAJ&redir_esc=y The Fourth Industrial Revolution]. New York: Crown Publishing Group. <nowiki>ISBN 9781524758875</nowiki>. Truy cập 2017-06-29. Digital technologies [...] are not new, but in a break with the third industrial revolution, they are becoming more sophisticated and integrated and are, as a result, transforming societies and the global economy. This is the reason why Massachusetts Institute of Technology (MIT) professors Erik Brynjolfsson and Andrew McAfee have famously referred to this period as 'the second machine age,' [...] the title of their 2014 book [...].</ref> bắt đầu vào đầu [[thế kỷ 21]], tiếp sau những thành tựu lớn từ lần thứ 3 để lại, được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc cách mạng số, với những công nghệ mới như [[in 3D]], [[robot]], [[trí tuệ nhân tạo]], [[Internet of Things]], S.M.A.C, [[công nghệ nano]], [[sinh học]], vật liệu mới,... Hiện tại cả thế giới đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng này và là chiến lược bản lề cho các nước đang phát triển tiến đến để theo kịp với xu hướng thế giới và mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của [[Người|con người]].
 
Tác động của cách mạng công nghiệp là vô cùng sâu rộng. Không chỉ làm thay đổi đời sống con người, các cuộc cách mạng công nghiệp còn dẫn tới sự thay đổi toàn diện hình thái kinh tế – xã hội. Sau [[cách mạng công nghiệp lần thứ nhất]], giai cấp tư sản đã tích lũy đủ tài sản và quyền lực, dẫn tới việc [[chủ nghĩa tư bản]] đã thắng thế chế độ [[phong kiến]]. Sau [[cách mạng công nghiệp lần thứ hai]], các nhà máy lớn sản xuất theo dây chuyền đã thay thế các xưởng sản xuất nhỏ, dẫn tới việc [[chủ nghĩa tư bản độc quyền]] đã thay thế [[chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh]], đồng thời giai cấp công nhân và một số phong trào chính trị đi theo [[chủ nghĩa xã hội]] đã hình thành. [[Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba]] dẫn tới sự ra đời của [[chủ nghĩa tư bản hiện đại]]. [[Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư]] hứa hẹn sẽ làm thay đổi hình thái kinh tế - xã hội của nhân loại thêm một lần nữa.
 
==Điều kiện ra đời==
===Nguyên nhân ===
Sau thời kỳ [[Thập tự chinh]], những [[chiến binh]] trở về mang theo những [[vật phẩm]] quý giá và mới lạ với xã hội châu Âu thời bấy giờ như [[nước hoa]], các loại [[gia vị]] mới, các sản phẩm bằng [[thép]],... Việc này thúc đẩy việc trao đổi mua bán của các thương nhân châu Âu.<ref name=":2" /> Vào thế kỷ 15, [[kinh tế hàng hóa]] ở [[Tây Âu]] đã khá phát triển, nhu cầu về [[thị trường]] tăng cao. [[Giai cấp tư sản]] Tây Âu muốn mở rộng thị trường sang phương Đông, mơ ước tới những nguồn vàng bạc từ [[phương Đông]].
 
Tại [[Tây Âu]], tầng lớp quý tộc cũng tăng lên, do đó nhu cầu về các mặt hàng [[đặc sản]], cao cấp có nguồn gốc từ phương Đông như [[tiêu]], [[chi Quế|quế]], [[trầm hương]], [[lụa]] [[tơ tằm]] ([[dâu tằm tơ]]), [[ngà voi]],... đã tăng vọt.
 
Trong khi đó, [[Con đường tơ lụa]] mà người phương Tây đã biết từ thời cổ đại lúc đó lại đang bị [[Đế quốc Ottoman]] theo [[hồi giáo|đạo Hồi]] chiếm giữ khiến cho hoạt động giao thương của phương Tây không thể qua đây được, vì vậy chỉ có cách tìm một con đường đi mới trên biển.
 
Lúc đó người Tây Âu đã có nhiều người tin vào giả thuyết Trái Đất hình cầu. Họ cũng đã đóng được những con tàu buồm đáy nhọn, thành cao, có khả năng vượt [[đại dương]], mỗi tàu lại đều có [[la bàn]] và [[thước phương vị]], điều đó đã tăng thêm sự quyết tâm cho những thủy thủ dũng cảm.<ref name=":2" />
 
=== Những phong trào tri thức tại Châu Âu===
=== Những cuộc phát kiến địa lý lớn thế kỉ 15–16 ===
[[Tây Ban Nha]] và [[Bồ Đào Nha]] là hai nước đi đầu trong phong trào phát kiến [[địa lý]]. Năm [[1415]] một trường [[hàng hải]] do [[Henrique của Bồ Đào Nha|Hoàng tử Henrique]] sáng lập và bảo trợ. Từ đó, hàng năm người Bồ Đào Nha tổ chức những cuộc thám hiểm men theo bờ biển phía tây [[châu Phi]].<ref name=":0">Sách giáo khoa Lịch sử lớp 7, Bài 2: Sự suy vong của chế độ phong kiến và sự hình thành chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu, phần 1, Những cuộc phát kiến địa lí, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.</ref>
 
Năm 1486, đoàn [[thám hiểm]] Bồ Đào Nha do [[Bartolomeu Dias]] chỉ huy đã tới được cực nam châu Phi, họ đặt tên mũi đất này là [[mũi Hảo Vọng|mũi Hy Vọng]].<ref name=":0" /><ref>[http://ch.ucpress.edu/content/16/1_Part_2/31 The Anonymous Narrative], page 61</ref>
 
Năm 1497, [[Vasco da Gama]] đã dẫn đầu đoàn thám hiểm Bồ Đào Nha tới được [[Ấn Độ]]. Ông được phong làm Phó vương Ấn Độ<ref>{{Chú thích web|url=https://sourcebooks.fordham.edu/halsall/mod/1497degama.asp|tiêu đề=Vasco da Gama: Round Africa to India, 1497-1498 CE}}</ref>
 
Người [[Tây Ban Nha]] lại đi tìm Ấn Độ theo hướng [[Mặt Trời]] lặn. Năm [[1492]], một đoàn thám hiểm do [[Cristoforo Colombo]] chỉ huy đã tới được quần đảo miền trung [[châu Mỹ|châu Mĩ]], nhưng ông lại tưởng là đã tới được Ấn Độ.<ref name=":2">Columbus Sails, Others Follow, and Spain Is on Top of the World, VOA Special English.</ref> Ông gọi những người thổ dân ở đây là ''Indians''. Sau này, một nhà hàng hải người [[Ý]] là [[Amerigo Vespucci]] mới phát hiện ra Ấn Độ của Colombo không phải là [[Ấn Độ]] mà là một vùng đất hoàn toàn mới đối với người [[châu Âu]]. Amerigo đã viết một cuốn sách để chứng minh điều đó. Vùng đất mới đó sau này mang tên America.<ref name=":2" />
 
Năm 1519–1522, [[Fernão de Magalhães|Ferdinand Magellan]] đã dẫn đầu đoàn thám hiểm Tây Ban Nha lần đầu tiên đi vòng quanh thế giới. Một hạm đội gồm 5 tàu với 265 người đã vượt [[Đại Tây Dương]] tới bờ biển phía đông của [[Nam Mỹ]]. Họ đã đi theo một eo biển hẹp gần cực nam châu Mỹ và sang được một đại dương mênh mông ở phía bên kia. Suốt quá trình vượt đại dương mênh mông đó, đoàn tàu buồm của Magellan hầu như không gặp một cơn [[bão]] đáng kể nào. Ông đặt tên cho [[đại dương]] mới đó là [[Thái Bình Dương]]. Magellan đã thiệt mạng ở [[Philippines]] do trúng tên độc của [[Người bản địa|thổ dân]]. Đoàn thám hiểm của ông cũng chỉ có 18 người sống sót trở về được tới quê hương. 247 người thiệt mạng trên tất cả các vùng biển và các hòn đảo trên thế giới vì những nguyên nhân khác nhau. Những thành công lớn nhất mà chuyến đi đạt được là lần đầu tiên con người đã đi vòng quanh thế giới.
 
===Tác dụng của những cuộc phát kiến địa lý ===
Các [[Thám hiểm|nhà thám hiểm]] bằng những chuyến đi thực tế đầy dũng cảm của mình đã chứng minh cho giả thuyết Trái Đất hình cầu. Họ còn cung cấp cho các [[nhà khoa học]] rất nhiều hiểu biết mới về [[địa lý]], [[thiên văn học|thiên văn]], [[hàng hải]], [[sinh học|sinh vật học]],...
 
Sau những cuộc phát kiến này, một sự tiếp xúc giữa các nền văn hóa trên thế giới diễn ra do các cá nhân có nguồn gốc văn hóa khác nhau như các [[giáo sĩ]], [[nhà buôn]], những người khai phá vùng đất mới, những quân nhân...<ref name="ReferenceA">How a Desire for Religious Freedom or Land, or Both, Led to Colonies, VOA Special English</ref>
 
Một làn sóng [[di cư]] lớn trên thế giới trong thế kỉ 16–18 với những dòng người châu Âu di chuyển sang châu Mĩ, [[châu Úc]].<ref name="ReferenceA"/> Nhiều [[nô lệ]] da đen cũng bị cưỡng bức rời khỏi quê hương xứ sở sang châu Mĩ.<ref>Slavery Arrives as Colonial Expansion Heads South, VOA Special English.</ref><ref>By 1750, Almost One in Four People in the Colonies Were Slaves, VOA Special English</ref>
 
Hoạt động [[thương mại|buôn bán]] trên thế giới trở nên sôi nổi, nhiều công ty buôn bán tầm cỡ quốc tế được thành lập.
 
Những cuộc phát kiến địa lý này cũng gây ra không ít hậu quả tiêu cực như nạn cướp bóc thuộc địa, buôn bán nô lệ da đen và sau này là [[Chủ nghĩa thực dân|chế độ thực dân]].<ref>British Defeat the French in a Struggle for North America, VOA Special English.</ref>
 
=== Thắng lợi của phong trào cách mạng tư sản (thế kỷ 16–18) ===
Sự phát triển của thị trường trên quy mô toàn thế giới đã tác động tới sự phát triển của nhiều quốc gia, trước hết là các nước bên bờ [[Đại Tây Dương]], sự thay đổi về mặt chế độ xã hội sẽ diễn ra là điều tất yếu. Giai cấp tư sản ngày càng lớn mạnh về mặt kinh tế nhưng họ chưa có địa vị chính trị tương xứng, chế độ chính trị đương thời ngày càng cản trở cách làm ăn của họ. Thế kỉ 16-18 đã diễn ra nhiều cuộc cách mạng tư sản ở Tây Âu và [[Bắc Mỹ]].
 
Bước chuyển đó đã được thực hiện qua hàng loạt những cuộc cách mạng tư sản như: [[Cách mạng tư sản Hà Lan]] (1566-1572), [[Nội chiến Anh|Cách mạng tư sản Anh]] (1640-1689), [[Cách mạng Mỹ|Chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ]] (1775–1783), [[Cách mạng Pháp|Cách mạng tư sản Pháp]] (1789–1799),...
 
Các cuộc biến động xã hội đó tuy cách xa nhau về không gian, thời gian cũng cách xa nhau hàng [[thế kỷ|thế kỉ]] nhưng đều có những nét giống nhau là nhằm lật đổ chế độ lạc hậu đương thời, tạo điều kiện cho [[kinh tế tư bản]] phát triển. Với sự thắng lợi của các cuộc [[cách mạng tư sản]] và sự ra đời của các quốc gia tư bản, [[công nghiệp]] [[thương nghiệp]] đã có điều kiện phát triển mạnh mẽ. [[Lịch sử]] nhân loại đang bước sang một giai đoạn [[văn minh]] mới.
 
== Khởi đầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ==
Cuộc cách mạng công nghiệp được khởi đầu tại Anh với các nhà phát minh tiên phong đều là những người Anh.<ref>Horn, Jeff; Rosenband, Leonard; Smith, Merritt (2010). Reconceptualizing the Industrial Revolution. Cambridge MA, USA, London: MIT Press. <nowiki>ISBN 978-0262515627</nowiki>.</ref>
 
=== Điều kiện ra đời Cách mạng công nghiệp ở Anh ===
Phong trào [[Khai sáng]] tại Châu Âu đã sản sinh ra hàng loạt các nhà bác học nổi tiếng như [[Isaac Newton]] với những phát kiến vĩ đại trong toán học, vật lý học, hóa học, tự nhiên học tạo ra nền tảng tri thức cho các tiến bộ trong kỹ nghệ sản xuất.
 
Về [[tự nhiên]], [[Anh]] có nhiều [[Than mỏ|mỏ than]], [[sắt]] và các mỏ này lại nằm gần nhau, điều đó rất thuận lợi về mặt [[kinh tế]] khi khởi đầu cuộc cách mạng công nghiệp. Các [[Sông|dòng sông]] ở Anh tuy không dài nhưng sức chảy khá mạnh, đủ để chạy các máy vận hành bằng sức nước. [[Cảng|Hải cảng]] Anh thuận lợi để đưa [[hàng hóa]] đi khắp thế giới. Về [[Nguyên vật liệu|nguyên liệu]], Anh có thuận lợi là nguồn lông cừu trong nước và [[bông]] nhập từ [[Hoa Kỳ|Mỹ]], đó là những nguyên liệu cần thiết cho ngành [[dệt]].
 
Về mặt xã hội, giai cấp quý tộc Anh sớm tham gia vào việc [[kinh doanh]] và họ trở thành tầng lớp quý tộc mới, có quyền lợi gắn liền với [[tư sản]], có cách nhìn của tư sản. Nhu cầu về lông cừu đã dẫn tới phong trào đuổi những người [[nông dân]] ra khỏi ruộng [[đất]] để các nhà quý tộc biến [[đất đai]] đó thành đồng cỏ nuôi cừu. Lực lượng nông dân bị dồn đuổi ra khỏi ruộng đất đã cung cấp một lượng lớn lao động cho các [[công trường]] thủ công ở các [[đô thị|thành thị]].
 
Về mặt kinh tế, Anh quốc có thể bóc lột tài nguyên từ các [[thuộc địa]] rộng lớn để làm nguồn vốn cho công nghiệp hóa, tiêu biểu là [[Ấn Độ]]. Nhà kinh tế học nổi tiếng [[Utsa Patnaik]] dựa trên dữ liệu chi tiết về thuế và mậu dịch thương mại trong gần hai thế kỷ, đã tính toán rằng thực dân Anh đã bòn rút khoảng 45.000 tỷ USD (theo thời giá năm 2017) của Ấn Độ trong giai đoạn 1765 đến 1938, lớn gấp 17 lần GDP của nước Anh năm 2017. Thuộc địa Ấn Độ đã phải cung phụng để nước Anh phát triển. Cuộc cách mạng công nghiệp tại Anh phụ thuộc lớn vào tài chính từ những phi vụ chiếm đoạt có hệ thống ở Ấn Độ.<ref name="vnreview.vn">https://vnreview.vn/tin-tuc-xa-hoi-so/-/view_content/content/2702429/nuoc-anh-da-trom-45-nghin-ty-do-tu-an-do-nhu-the-nao</ref>.
 
=== Thành tựu của Cách mạng công nghiệp ===
Năm [[1733]], [[John Kay]]<ref>{{Chú thích web|url=https://www.britannica.com/biography/John-Kay|tiêu đề=John Kay, British engineer and inventor}}</ref> đã phát minh ra "thoi bay" (flying shuttle).<ref>{{Chú thích web|url=https://www.britannica.com/technology/flying-shuttle|tiêu đề=Flying shuttle, technology}}</ref> [[Phát minh]] này đã làm người thợ dệt không phải lao thoi bằng tay và [[năng suất lao động]] lại tăng gấp đôi.
 
Năm [[1764]], [[James Hargreaves]] đã chế được chiếc xe kéo sợi kéo được 16–18 cọc sợi một lúc, giúp tăng năng suất gấp 8 lần. Ông lấy tên con gái mình là Jenny để đặt cho máy đó.
 
Năm [[1769]], [[Richard Arkwright]] đã cải tiến việc kéo sợi không phải bằng tay mà bằng súc vật, sau này còn được kéo bằng sức nước.
 
Năm [[1779]], Cromton đã cải tiến máy với [[kỹ thuật]] cao hơn, kéo được sợi nhỏ lại chắc, vải dệt ra vừa đẹp vừa bền
 
Năm [[1785]], phát minh quan trọng trong ngành [[dệt]] là máy dệt vải của linh mục [[Edmund Cartwright]]. phát minh này đã tăng năng suất dệt lên tới 40 lần.
 
Phát minh trong ngành dệt cũng tác động sang các ngành khác. Lúc bấy giờ, các nhà máy dệt đều phải đặt gần sông để lợi dụng sức nước chảy, điều đó bất tiện rất nhiều mặt. Năm [[1784]], [[James Watt]] phụ tá thí nghiệm của [[Đại học Glasgow|trường Đại học Glasgow]] ([[Scotland]]) đã phát minh ra [[động cơ hơi nước|máy hơi nước]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www.bbc.co.uk/history/historic_figures/watt_james.shtml|tiêu đề=James Watt, BBC history}}</ref> Nhờ phát minh này, nhà máy dệt có thể đặt bất cứ nơi nào. Không những thế phát minh này còn có thể coi là mốc mở đầu quá trình [[cơ giới hóa]].
 
Ngành [[luyện kim]] cũng có những bước tiến lớn. Năm [[1784]], [[Henry Cort]] đã tìm ra cách luyện sắt "puddling". Mặc dù phương pháp của Henry Cort đã luyện được [[sắt]] có chất lượng hơn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về độ bền của [[máy móc]]. Năm [[1885]], [[Henry Bessemer]] đã phát minh ra lò cao có khả năng luyện [[gang]] lỏng thành [[thép]]. Phát minh này đã đáp ứng được về yêu cầu cao về số lượng và chất lượng [[thép]] hồi đó.
 
Cách mạng cũng diễn ra trong ngành [[giao thông vận tải]]. Năm [[1814]], Stephenson phát minh ra chiếc [[đầu máy xe lửa]] đầu tiên chạy bằng hơi nước. Đến năm [[1829]], vận tốc xe lửa đã lên tới 14 dặm/giờ. Thành công này đã làm bùng nổ hệ thống đường sắt ở [[châu Âu]] và [[châu Mỹ]].
 
Năm [[1807]], [[Robert Fulton]] đã chế ra [[tàu thủy]] chạy bằng [[hơi nước]] thay thế cho những mái chèo hay những cánh buồm.<ref>{{Chú thích web|url=https://archive.org/details/torpedowarsub00fultrich|tiêu đề=Torpedo war, and submarine explosions
by Fulton, Robert, 1765-1815}}</ref>
 
===Những hệ quả của Cách mạng công nghiệp ===
Nhiều [[khu công nghiệp]] xuất hiện, dân tập trung ra các [[Đô thị|thành thị]] ngày một nhiều dẫn tới quá trình [[đô thị hóa]] thời cận đại. Nhiều đô thị với dân số trên 1 triệu người dần hình thành.
Làm chuyển biến nền sản xuất nhỏ thủ công sang sản xuất lớn bằng máy móc, nâng cao [[năng suất lao động]], làm ra [[khối lượng]] sản phẩm lớn cho [[xã hội]].
 
[[Giai cấp công nhân|Giai cấp vô sản]] cũng ngày càng phát triển về số lượng. Với điều kiện sống cực khổ lúc đó, mỗi ngày lại phải làm việc từ 14 đến 16 giờ, họ bị bóc lột nặng nề được trả đồng lương chết đói, điều kiện ăn ở tồi tàn nên những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đã sớm nổ ra.
 
Năm 1811–1812, ở [[Anh]] đã nổ ra phong trào đập phá máy móc. Đó là một biểu hiện đấu tranh bộc phát.
 
[[Đình công|Bãi công]] là một hình thức đấu tranh phổ biến của giai cấp vô sản. Nhiều cuộc bãi công cũng đã nổ ra. Ở Anh, 1836–1848 còn nổ ra [[phong trào Hiến chương]].
 
Quyết liệt hơn, ở [[Pháp]], [[Đức]] còn nổ ra những cuộc khởi nghĩa.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.worldsocialism.org/spgb/socialist-standard/2010s/2015/no-1325-january-2015/page-history-1834-canut-revolt-lyon|tiêu đề=A Page of History: the 1834 Canut Revolt in Lyon}}</ref> Năm 1831–1834 tại [[Lyon]] (Pháp)<ref name=":1">{{Chú thích web|url=https://www.marxist.com/the-lyon-silk-workers-uprisings-of-1831-and-1834.htm|tiêu đề=The Lyon Silk Workers’ uprisings of 1831 and 1834}}</ref> và [[Silesia]] (Đức)<ref>{{Chú thích web|url=https://www.solidarity-us.org/site/node/4308|tiêu đề=Labor's Fighting Heritage: The 180th Anniversary of the Lyonnais Silk Weavers Revolt and 80th Anniversary of the US General Textile Strike}}</ref> đã nổ ra những cuộc khởi nghĩa. Những cuộc đấu tranh này chứng tỏ [[giai cấp vô sản]] đang trở thành lực lượng [[chính trị]] độc lập, đòi hỏi thay đổi sự thống trị của [[giai cấp tư sản]].<ref name=":1" />
 
Tại các [[thuộc địa]], người dân bản xứ cũng bị giới chủ tư bản tại các nước chính quốc (Anh, Pháp) bóc lột nặng nề. Trong toàn bộ lịch sử 200 năm cai trị của Anh tại Ấn Độ, hầu như không có sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người. Trong nửa cuối thế kỷ 19, thu nhập bình quân của dân Ấn Độ đã giảm một nửa. Tuổi thọ trung bình của người Ấn giảm 20% từ năm 1870 đến 1920. Hàng chục triệu người đã chết đói do chính sách mà thực dân Anh gây ra<ref name="vnreview.vn"/>.
 
Ngoài ra cách mạng công nghiệp còn gây ra một số hệ quả tiêu cực như: Bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trường, giai cấp tư sản bóc lột sức lao động của giai cấp vô sản nên đã gây ra mâu thuẫn giữa hai giai cấp này
 
== Các Cuộc cách mạng công nghiệp ==
 
=== Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ===
{{Chính|Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất}}
 
Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra từ thế kỷ XVIII đến XIX ở châu Âu và Mỹ. Đó là thời kỳ mà hầu hết nông nghiệp, xã hội nông thôn đã trở thành công nghiệp và đô thị. Ngành công nghiệp sắt và dệt, cùng với sự phát triển của động cơ hơi nước, đóng vai trò trung tâm trong Cách mạng Công nghiệp.
[[Tập_tin:Puffing_Billy_steam_engine.JPG|nhỏ|Hình ảnh của ''Puffing Billy'' động cơ hơi nước lấy trong bảo Tàng Khoa học ở London.]]
 
===Cách mạng công nghiệp lần thứ 2 ===
{{Chính|Cách mạng công nghiệp lần thứ hai}}
Cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra từ năm 1870 đến năm 1914, ngay trước Thế chiến I. Đó là giai đoạn tăng trưởng của các ngành công nghiệp đã có từ trước và mở rộng các ngành mới, như thép, dầu, điện, và sử dụng điện để sản xuất hàng loạt. Các tiến bộ kỹ thuật chủ yếu trong giai đoạn này bao gồm điện thoại, bóng đèn, đĩa hát và động cơ đốt trong,...<ref name="Chú thích báo">[http://ushistoryscene.com/article/second-industrial-revolution/ The Second Industrial Revolution, 1870-1914]</ref>
 
=== Cách mạng công nghiệp lần thứ 3 ===
{{Chính|Cách mạng công nghiệp lần thứ ba}}Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, tạm được xem là cuộc [[:en:Digital Revolution|cách mạng kỹ thuật số]], đề cập đến sự tiến bộ của công nghệ từ các thiết bị cơ điện tử tương tự sang công nghệ số ngày nay. Kỷ nguyên bắt đầu vào những năm 1980 và vẫn đang diễn ra. Những tiến bộ trong Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba bao gồm [[máy tính cá nhân]], internet và công nghệ thông tin và truyền thông (ICT).Tiến bộ trong Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba bao gồm các [[máy tính cá nhân]], [[internet]], [[Công nghệ thông tin và truyền thông|công nghệ thông tin]] và [[mạng xã hội]].
 
=== Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 ===
{{Chính|Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư}}[[Tập tin:KUKA_Industrial_Robots_IR.jpg|nhỏ|1983, Robot Công nghiệp KUKA IR160/60, 601/60]]
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được xây dựng dựa trên những Kỹ thuật số, cuộc cách Mạng, đại diện cho những cách mới công nghệ trở nên nhúng trong xã hội và ngay cả cơ thể con người.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.weforum.org/agenda/2016/01/what-is-the-fourth-industrial-revolution/|tiêu đề=What is the fourth industrial revolution?|ngày truy cập = ngày 12 tháng 12 năm 2016 |website=World Economic Forum}}</ref> Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được đánh dấu bởi công nghệ mới đột phá trong một số trường, bao gồm cả [[Robot học|robotics]], [[Trí tuệ nhân tạo|trí thông minh nhân tạo]], [[công nghệ nano]], [[công nghệ sinh học]], [[Mạng lưới vạn vật kết nối Internet|Internet v]]ạn vật, [[in 3D]], và xe tự lái.
 
Trong cuốn sách của mình mang tên "Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư" Giáo sư Klaus Schwab, Người sáng lập và Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã mô tả cuộc cách mạng lần thứ tư này khác biệt cơ bản với ba lần trước, đặc trưng chủ yếu là những tiến bộ trong công nghệ. Các công nghệ này có tiềm năng tiếp tục kết nối hàng tỷ người trên web, cải thiện đáng kể hiệu quả kinh doanh và tổ chức, giúp tái tạo môi trường tự nhiên bằng cách quản lý tài sản tốt hơn.
<ref name="Chú thích báo"/>
 
"Làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư" là chủ đề của Hội nghị thường niên Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2016 tại Davos-Klosters, Thụy Sĩ.
 
==Phát minh khoa học kỹ thuật ==
Vào [[thế kỷ 17]] và [[Thế kỷ 18|18]], [[khoa học]] đã đạt được những thành tựu lớn đặc biệt trong các ngành [[thiên văn học|thiên văn]], [[vật lý học|vật lý]], [[hóa học]], [[y học]].
 
Người phát triển và ủng hộ tính đúng đắn của [[học thuyết Copernicus]] là nhà bác học [[Đức]], [[Johannes Kepler]]. Kepler đã đưa ra 3 [[Định luật vật lý|định luật]] về sự chuyển động của các [[thiên thể]]. Định luật thứ nhất, ông khẳng định [[Trái Đất]] chuyển động quanh [[Mặt Trời]], không những thế ông còn xác định được quỹ đạo chuyển động của nó không phải là đường tròn mà là [[hình elíp]]. Định luật thứ hai, Kepler chứng minh vận tốc chuyển động của [[hành tinh]] tăng lên khi đang tới gần [[Mặt Trời]] và giảm dần khi nó chuyển động xa Mặt Trời. Định luật thứ ba, ông đã xác lập được công thức toán học giữa thời gian cần để [[hành tinh]] chuyển động hết một vòng quanh Mặt Trời và khoảng cách giữa nó với Mặt Trời.
 
[[Galileo Galilei]], một nhà [[thiên văn học]] người [[Ý]] đã chế tạo ra [[kính viễn vọng|kính thiên văn]] để quan sát bầu trời. Galilei cũng là người ủng hộ nhiệt tình học thuyết Copernicus. Ông còn là người trực tiếp làm thực nghiệm về sự [[rơi tự do]] trên [[tháp nghiêng Pisa|tháp nghiêng Piza]]. Có thể nói Galilei là người tiến hành hàng loạt thí nghiệm một cách có [[hệ thống]]. Vì vậy, sau này người ta coi Galilei là cha đẻ của [[phương pháp thực nghiệm khoa học]].
 
Một [[nhà vật lý]] người Anh, [[William Gilbert]] trong một quyển sách xuất bản năm 1600 đã giải thích Trái Đất như một cục [[nam châm]] khổng lồ tạo ra một [[từ trường]] (nhưng không mạnh), điều đó làm kim [[la bàn]] chỉ xoay về hướng Bắc.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.bbc.com/history/historic_figures/gilbert_william.shtml|tiêu đề=William Gilbert, BBC history}}</ref> Ông còn nghiên cứu về hiện tượng [[tĩnh điện]]. Ông thấy rằng không chỉ có [[hổ phách]] khi bị chà xát mới hút các vật nhẹ mà có những thứ khác như [[thủy tinh]],... cũng có tính chất như vậy. Ông gọi đó là "hiện tượng hổ phách" - ''electric'' (từ ''electron'' theo [[tiếng Hy Lạp]] có nghĩa là "hổ phách").
 
[[Isaac Newton]] là một nhà bác học người Anh, ông được coi là nhà vật lý vĩ đại nhất của [[thế kỷ 18|thế kỉ 18]]. Đóng góp vĩ đại nhất của Newton nằm trong 3 định luật mang tên ông mà nổi bật là [[tương tác hấp dẫn|định luật Vạn vật hấp dẫn]]. Có thể coi Newton là hòn đá tảng của nền vật lý cổ điển. Tác phẩm vĩ đại của Newton là ''Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên''.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.biography.com/people/isaac-newton-9422656|tiêu đề=Issac Newton biography}}</ref>
 
Về [[hóa học]], [[Joseph Priestley]] là một [[luật sư]] người Anh đã khám phá ra [[ôxy|oxy]].<ref>{{Chú thích web|url=https://www.britannica.com/biography/Joseph-Priestley|tiêu đề=Joseph Priestley, ENGLISH CLERGYMAN AND SCIENTIST}}</ref>
 
[[Y học]] cũng có nhiều tiến bộ. [[Andreas Vesalius]], một nhà khoa học người [[Bỉ]] đã cho in cuốn sách về [[cấu trúc cơ thể người]]. Để viết được cuốn sách này, ông đã phải nghiên cứu rất nhiều tử thi. Ông phê phán những người chỉ biết vùi đầu vào những cuốn sách của các nhà y học thời cổ đại.
 
[[William Harvey]], một nhà [[sinh lý học|sinh lý]] người Anh đã nghiên cứu rất nhiều về hệ tuần hoàn của [[chim]], [[cá]], [[bộ Không đuôi|ếch]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www.bbc.com/history/historic_figures/harvey_william.shtml|tiêu đề=BBC - History - William Harvey}}</ref> Ông đã mô tả về [[hệ tuần hoàn máu]] trong [[cơ thể người]] qua quyển sách Tiến hành [[giải phẫu học|giải phẫu]] đối với sự chuyển động của [[tim]] và [[máu]] trong cơ thể loài vật.
 
Vào thế kỷ 19, cuộc cách mạng tri thức trong thế kỷ 18 đã tạo điều kiện cho những tiến bộ ở những thế kỷ sau đó.<ref>Lịch sử lớp 9, Bài 12: Những thành tựu chủ yếu và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng khoa học kỹ thuật, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.</ref>
 
[[John Dalton]], một giáo viên người Anh cho rằng mọi vật chất đều cấu tạo bởi các [[nguyên tử]].<ref>{{Chú thích web|url=https://courses.lumenlearning.com/boundless-chemistry/chapter/history-of-atomic-structure/|tiêu đề=History of Atomic Structure}}</ref> Nguyên tử của các chất khác nhau thì có khối lượng khác nhau. Các nguyên tử hợp thành từng đơn vị (bây giờ ta gọi là [[phân tử]]). Ông còn miêu tả chúng bằng những [[công thức hóa học]].
 
Một phát minh vĩ đại về mặt hóa học là [[Bảng tuần hoàn|Bảng hệ thống tuần hoàn]] năm 1869 của [[Dmitri Ivanovich Mendeleev|Dmitri Mendeleev]], một nhà hóa học [[Nga]]. Ông đã sắp xếp các chất hóa học thành từng nhóm theo khối lượng riêng, tính chất riêng của chúng. Ông còn dự đoán một số chất mà loài người sẽ phát hiện ra để lấp vào chỗ trống trong bảng tuần hoàn của ông với một sự chính xác đáng kinh ngạc.
 
Năm 1800, [[Alessandro Volta]] ([[Ý]]) đã chế tạo ra [[pin (định hướng)|pin]] do tác động của hoạt động hóa học. Năm 1831, [[Michael Faraday]] đã chứng minh dòng điện sẽ xuất hiện khi ta di chuyển ống dây qua một [[từ trường]]. Phát minh của Faraday đã tạo cơ sở cho việc chế tạo ra máy phát điện sau này.
 
Năm 1860 [[James Clerk Maxwell]], một [[nhà khoa học]] người [[Scotland]], đã đưa ra lý thuyết giải thích [[ánh sáng]] bản chất cũng là một dạng của [[Bức xạ điện từ|sóng điện từ]] mà trong khoảng mắt người nhìn thấy được. Tới năm 1885, [[Heinrich Hertz]] đã chứng minh được tốc độ khác nhau của các loại [[bức xạ điện từ|sóng điện từ]] khác nhau. Sau này người ta lấy tên Hertz để đặt cho đơn vị đo chu kỳ.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.britannica.com/biography/Heinrich-Hertz|tiêu đề=Heinrich Hertz, GERMAN PHYSICIST}}</ref>
 
Năm [[1895]], một nhà khoa học người Đức khác là [[Wilhelm Röntgen]] đã tạo ra một loại tia có thể đâm xuyên qua các vật [[chất rắn|thể rắn]], ánh sáng không thể xuyên qua được. Ông gọi đó là [[tia X]].<ref>{{Chú thích web|url=https://www.nobelprize.org/nobel_prizes/physics/laureates/1901/rontgen-bio.html|tiêu đề=Wilhelm Conrad Röntgen - Biographical}}</ref>
 
Năm [[1898]], hai nhà bác học [[Pierre Curie]] và [[Marie Curie]] đã tinh chế được chất [[radi]]um và phát hiện ra [[phóng xạ|tính phóng xạ]] của nó.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.biography.com/people/marie-curie-9263538|tiêu đề=Marie Curie biography}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://www.biography.com/people/pierre-curie-39098|tiêu đề=Pierre Curie biography}}</ref>
 
Về mặt thông tin, phát minh quan trọng phải kể tới là năm 1876 [[Alexander Graham Bell]] đã phát minh ra [[điện thoại|máy điện thoại]] đầu tiên.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.biography.com/people/alexander-graham-bell-9205497|tiêu đề=Alexander Graham Bell, Biography.com}}</ref> 1879 [[Thomas Edison|Thomas A. Edison]] đã có những cải tiến vượt bậc cho các bằng sáng chế trước đó về bóng đèn dây tóc, nhờ đó mà lần đầu tiên, con người đã có thể dùng điện để thắp sáng các bóng đèn.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.biography.com/people/thomas-edison-9284349|tiêu đề=Thomas Edison Biography}}</ref> Cũng vào thời điểm này, Nikola Tesla đã có rất nhiều phát minh mang tính cách mạng trong lĩnh vực [[Điện từ học|điện từ trường]], chế tạo các máy phát điện xoay chiều, các loại động cơ điện nhiều pha, đồng thời đặt nền móng cho việc truyền tải và phân phối điện xoay chiều sau này.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.biography.com/people/nikola-tesla-9504443|tiêu đề=Nikola Tesla (1856–1943)}}</ref> Ông cũng là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu về radio<ref>{{Chú thích web|url=http://ieeexplore.ieee.org/document/4137304/?reload=true&tp=&arnumber=4137304&url=http:%2F%2Fieeexplore.ieee.org%2Fxpls%2Fabs_all.jsp%3Farnumber%3D4137304|tiêu đề=Guglielmo Marconi - The father of long distance radio communication}}</ref> và tia X.<ref>{{Chú thích web|url=http://pubs.rsna.org/doi/full/10.1148/rg.284075206|tiêu đề=NIkola Tesla and the discover of X-rays}}</ref>
 
Về mặt kĩ thuật, đầu thế kỉ 19 khí đốt và gas đã được người Anh và Pháp đưa vào phục vụ cuộc sống. 1897 một kĩ sư người Đức là [[Rudolf Diesel]] đã chế ra một loại [[động cơ đốt trong]] không cần [[bugi]], sử dụng [[dầu]] cặn nhẹ. [[Động cơ Diesel]] chính là mang tên ông.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.thoughtco.com/rudolf-diesel-diesel-engine-1991648|tiêu đề=Rudolf Diesel, Inventor of the Diesel Engine}}</ref>
 
Về [[y học]], phát minh quan trọng của thế kỉ 19 phải kể tới [[Louis Pasteur]], ông đã đế ra cách ngừa bệnh mới là sử dụng [[vắc-xin|vaccine]].<ref>{{Chú thích web|url=https://www.biography.com/people/louis-pasteur-9434402|tiêu đề=Louis Pasteur, Chemist, Inventor, Scientist(1822–1895)}}</ref>
 
Về [[sinh học]], phát minh quan trọng của thế kỉ 19 phải kể tới [[Charles Darwin]].<ref>{{Chú thích web|url=https://www.biography.com/people/charles-darwin-9266433|tiêu đề=Charles Darwin, Biologist, Scientist (1809–1882)}}</ref> Năm 1859 Darwin đã cho ra đời tác phẩm ''[[Nguồn gốc các loài]]'' qua con đường [[chọn lọc tự nhiên]]. Trong tác phẩm đó ông trình bày 3 ý tưởng chủ yếu: [[đấu tranh sinh tồn]], [[chọn lọc tự nhiên]], [[sự tồn tại của giống thích ứng với môi trường]] tốt nhất đã trở thành cơ sở của [[Thuyết tiến hóa|học thuyết tiến hóa]] cổ điển.
 
Về [[di truyền học]], [[Gregor Mendel]] ([[Áo]]) đã đưa ra học thuyết chứng minh sự di truyền những phẩm chất của thế hệ trước cho thế hệ sau qua những phân tử cực nhỏ, mà sau này được gọi là [[gen]]<nowiki/>e.
 
Về [[tâm lý học]], cuối thế kỷ 19 có hai [[phát minh]] quan trọng là của [[Ivan Petrovich Pavlov|Ivan Pavlov]] và [[Sigmund Freud]]. Pavlov đã phát hiện ra phản xạ có điều kiện. Thử nghiệm của Pavlov đã giải thích nhiều hành vi của con người không giải thích được bằng lý trí, thực tế chỉ là sự phản ứng máy móc trước các kích thích đã trở thành tập tính. Còn học thuyết của Freud thì giải thích nhiều hành động của con người xuất phát từ những nhu cầu, ước muốn tiềm ẩn. Freud đã tạo ra ngành [[phân tâm học]].
 
==Phát minh học thuyết chính trị ==
Vào [[thế kỷ 19]] ra đời học thuyết về quyền tự do cá nhân và quốc gia dân tộc.
 
Những cuộc [[cách mạng tư sản]] đã tạo điều kiện giải phóng con người khỏi những sự kiềm chế độc đoán của [[phong kiến|chế độ phong kiến]]. Con người ngày càng có ý thức về [[Tự do|quyền tự do]] của các cá nhân và quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Trong điều kiện như vậy, những học thuyết về quyền tự do cá nhân và quyền của các dân tộc đã được hình thành.
 
Về quyền tự do cá nhân phải kể tới những tư tưởng của [[John Stuart Mill]] qua tác phẩm Luận về tự do. Mill đã nêu lên nguyên tắc là [[cá nhân]] có thể làm bất cứ điều gì miễn là không hại tới người khác, không ảnh hưởng tới quyền tự do của người khác. Trong thực tế cuộc sống, việc thực hiện nguyên tắc này còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí và sự nghiêm minh của [[luật pháp|pháp luật]].
 
[[Alexis de Tocqueville]] thì viết tác phẩm ''Nền dân chủ Hoa Kỳ''. Qua tác phẩm này, ông cho rằng trào lưu dân chủ đang lên là không thể nào ngăn cản được. Ông ca ngợi tinh thần dân chủ, sự thành công và sức mạnh vật chất của nước [[Hoa Kỳ|Mỹ]], nhưng ông cũng đồng thời phê phán tính cách thiếu tế nhị, ngạo mạn, thực dụng của nền văn hóa Mỹ theo cách nhìn của người Pháp.
 
Về [[quyền của các dân tộc]] thì lại có hai xu hướng trái ngược nhau. Xu hướng thứ nhất cho rằng mỗi dân tộc đều có quyền chọn cách sống riêng cho dân tộc mình, không dân tộc nào khác có quyền xâm phạm. Nhà ái quốc người Ý [[Giuseppe Mazzini]] đã để cả cuộc đời mình kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm này. Các cuộc đấu tranh của những nhà yêu nước ở vùng [[Balkan]] chống lại sự thống trị của ngoại bang cũng là một cách bảo vệ quan điểm đó.
 
Xu hướng thứ hai thì ngược lại, một số nhà lý luận của các dân tộc lớn thì cho là dân tộc mình siêu đẳng hơn, có sứ mệnh phải giúp các dân tộc khác khai hóa văn minh, chỉ bảo cho các dân tộc kém hơn cách sống hợp lý. Họ còn lợi dụng học thuyết của Darwin về cạnh tranh sinh tồn để áp dụng vào xã hội. Lý luận này được giới thực dân rất ủng hộ vì nó chứng minh cho sự "cần thiết" của các cuộc [[chiến tranh xâm lược]] các vùng đất chưa phát triển.
 
Tư tưởng về chủ nghĩa xã hội đã xuất hiện từ thế kỉ 16 với tác phẩm về Utopia của Sir [[Thomas More]], tư tưởng này phản ánh ước mơ một xã hội công xã nông thôn thanh bình dựa trên nền sản xuất [[nông nghiệp]] kết hợp với [[thủ công nghiệp]]. Các nhà [[tư tưởng chủ nghĩa xã hội]] của thế kỉ 19 đã thấy sự tất yếu của một [[xã hội công nghiệp]]. Từ đó họ nảy sinh tư tưởng xây dựng một hạn chế [[bóc lột]], hạn chế sự cách biệt giàu nghèo, khắc phục những mặt tiêu cực của xã hội tư bản. Tiêu biểu cho các nhà [[xã hội chủ nghĩa không tưởng]] của thế kỉ 19 là [[Saint Simon]], [[Charles Fourier]] và [[Robert Owen]].
 
Saint Simon nhận thấy mâu thuẫn giữa các nhà một bên là các nhà tư sản giàu có và một bên là những người làm thuê rất nghèo khổ. Ông chủ trương xây dựng một xã hội mới do "những nhà công nghiệp sáng suốt" điều hành, trong đó mọi người đều lao động theo kế hoạch và được hưởng thụ [[bình đẳng]]. Để xây dựng một xã hội như vậy, ông chủ trương thuyết phục các nhà tư bản chứ không theo con đường [[bạo lực cách mạng]].
 
Charles Fourier cũng phê phán sự bất công của xã hội tư bản, ông vạch rõ "sự nghèo khổ sinh ra từ bản thân sự thừa thãi". Ông vạch ra dự án xây dựng các [[công xã Falange]] trong đó mọi người đều lao động, coi lao động là nguồn vui. Trong các công xã có sự kết hợp giữa công nghiệp với nông nghiệp. Sự hưởng thụ sản phẩm được chia theo tỉ lệ: 5/12 cho lao động, 4/12 cho tài năng, 3/12 cho những người góp vốn xây dựng Falange. Ông kêu gọi những người giàu có góp vốn xây dựng Falange, nhưng lời kêu gọi của ông chẳng được ai đáp lại.
 
Robert Owen vốn xuất thân từ một người làm thuê, biết làm ăn và trở thành ông chủ. Ông đã bỏ vốn của mình ra làm gương, xây dựng một cơ sở làm ăn. Trong cơ sở của Owen tài sản được coi là của chung, mọi người đều cùng làm việc mỗi ngày là 10 giờ, có nhà trẻ cho công nhân nữ gửi con nhỏ, lợi nhuận làm ra được thì chia công bằng,... Việc làm đó của ông sau này đã bị thất bại vì sản phẩm của xưởng ông làm ra không đủ sức [[cạnh tranh]] trên [[thị trường]]. Ông bỏ sang [[Hoa Kỳ|Mỹ]] thí nghiệm ý tưởng của mình lần nữa nhưng cũng thất bại và cuối cùng phải bỏ về Anh trong cảnh nghèo khó.
 
Học thuyết của các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng đầy tính nhân đạo nhưng đều thất bại khi đem ra thi hành. Nói như chúng ta ngày nay là thiếu tính khả thi. Tuy vậy, những tư tưởng của họ đã ảnh hưởng quan trọng tới sự ra đời học thuyết về chủ nghĩa xã hội khoa học sau này do [[Karl Marx]] xây dựng.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.biography.com/people/karl-marx-9401219|tiêu đề=Karl Marx, biography}}</ref>
 
Kark Marx và [[Friedrich Engels]] đã xây dựng về [[học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học]] qua tác phẩm ''Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản'' xuất bản tháng 2 năm 1848.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.britannica.com/biography/Friedrich-Engels|tiêu đề=Friedrich Engels, GERMAN PHILOSOPHER}}</ref>
 
Trong ''Tuyên ngôn'' Marx và Engels đã chứng minh lịch sử loài người là lịch sử của sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội nối tiếp thay thế nhau, xã hội sau sẽ tạo ra năng suất lao động cao hơn xã hội trước. [[Đấu tranh giai cấp]] là động lực phát triển trong xã hội có giai cấp. [[Đấu tranh giai cấp]] của giai cấp vô sản sẽ dẫn tới sự xuất hiện một xã hội mới công bằng hơn, tiến bộ hơn. [[Giai cấp công nhân]], tổ chức ra chính đảng của mình lãnh đạo một cuộc [[cách mạng vô sản]], tiến lên xây dựng chính quyền của mình và thiết lập mối quan hệ giữa công nhân các nước theo tinh thần [[quốc tế vô sản]].
 
Đầu thế kỉ 20, [[Vladimir Ilyich Lenin]] đã phát triển thêm lý luận của Marx và Engels và vận dụng lý luận đó vào hoàn cảnh nước [[Nga]], chỉ đạo phong trào đấu tranh ở Nga đi tới thắng lợi của cuộc [[Cách mạng Tháng Mười|Cách mạng tháng Mười Nga]] năm 1917.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.biography.com/people/vladimir-lenin-9379007|tiêu đề=Vladimir Lenin}}</ref>
 
== Thành tựu văn học nghệ thuật ==
=== Văn học ===
Lịch sử thời cận đại đã được văn học châu Âu phản ánh một cách sinh động, đặc biệt là [[văn học Pháp]].
 
Sau thất bại của [[Napoléon Bonaparte]] và sự phục hồi tạm thời của các thế lực [[Chủ nghĩa bảo hoàng|bảo hoàng]], ở Pháp đã xuất hiện một dòng văn học lãng mạn thể hiện sự nuối tiếc một thời vàng son đã qua của [[giới quý tộc]]. Đại biểu cho trào lưu này là [[François-René de Chateaubriand]].
 
[[Victor Hugo]] là một [[nhà văn]] tiêu biểu cho trào lưu lãng mạn tiến bộ. Ông thể hiện sự thông cảm với những người nghèo khổ qua các tác phẩm ''[[Những người khốn khổ]]'', ''[[Nhà thờ Đức Bà Paris (tiểu thuyết)|Nhà thờ Đức bà Paris]]''. Qua các tác phẩm, Hugo thể hiện lòng khát khao muốn vươn tới một xã hội tốt đẹp, công bằng và chan chứa tình nhân đạo.
 
[[Chủ nghĩa tư bản|Xã hội tư bản]] khắc nghiệt, tàn bạo cũng đã được phản ánh qua dòng [[văn học hiện thực]] mà tiêu biểu là [[Honoré de Balzac]]. Những [[Tác phẩm văn học|tác phẩm]] tiêu biểu của ông như ''[[Eugénie Grandet]]'', ''[[Miếng da lừa]],''... và nhiều tác phẩm khác. Những [[Tác phẩm văn học|tác phẩm]] đó của Balzac đã được tập hợp trong bộ ''[[Tấn trò đời]]''. Những tác phẩm như ''[[Đỏ và đen]]'' của [[Stendhal]], ''[[Viên Mỡ Bò|Viên mỡ bò]]'' của [[Guy de Maupassant]] cũng phản ánh [[Chủ nghĩa tư bản|xã hội tư bản]] đầy bất công, tàn bạo.
 
Văn học Nga của thế kỉ 19 cũng có những đóng góp quan trọng với các tác phẩm như ''[[Chiến tranh và hòa bình|Chiến tranh và hoà bình]]'' của [[Lev Nikolayevich Tolstoy]]. Những nhà văn tên tuổi khác của nền văn học Nga thế kỉ 19 phải kể tới là [[Ivan Sergeyevich Turgenev]], [[Nikolai Vasilyevich Gogol|Nikolai Vasilevich Gogol]], [[Fyodor Mikhailovich Dostoevsky]], [[Bielixki]]...
 
=== Nghệ thuật ===
[[Âm nhạc]] thời cận đại thế kỷ 18 với sự đóng góp của những [[nhạc sĩ]] lớn như [[Johann Sebastian Bach]], [[Wolfgang Amadeus Mozart]], thì đến thế kỷ 19 có sự đóng góp vĩ đại của [[Ludwig van Beethoven]], [[Frédéric Chopin]]...
 
[[Hội họa]] theo xu hướng lãng mạn thường đi tìm những phương trời xa lạ. Danh họa [[Eugène Delacroix]]) thường vẽ những kị sĩ [[Ả Rập]], những cuộc đi săn. Đến cuối thế kỉ 19, danh họa người [[Tây Ban Nha]] [[Francisco de Goya|Francisco Goya]] đã vẽ những cảnh tàn khốc trong cuộc chiến tranh chống Napoléon.
 
[[Điêu khắc]] thế kỷ 19 không để lại nhiều tác phẩm như thời [[Phục Hưng]]. Nhà điêu khắc [[Frédéric Auguste Bartholdi|Frédéric Bartholdi]] đã hoàn thành bức [[tượng Nữ thần Tự do]] để [[Chính phủ Pháp]] gửi tặng nước Mỹ. Một phiên bản nhỏ, cao gấp 1,5 lần người thật của bức tượng này cũng được đặt tại [[Hà Nội]] ở một công viên [[Vườn hoa Bà Đầm]], tiếc rằng phiên bản này ngày nay không còn nữa. Chúng ta chỉ còn thấy dấu vết qua đồng 50 xu tiền Đông Dương xưa kia.
 
[[Khải Hoàn Môn (Paris)|Khải Hoàn Môn]] ở [[Paris]] và nhiều [[dinh thự]] ở [[Paris]] cũng còn giữ lại được một số tác phẩm điêu khắc giá trị của [[thế kỷ 19]].
 
Kiến trúc Âu – Mỹ của [[thế kỷ 19]] rất đa dạng, thể hiện một sự giao lưu văn hóa rộng mở. Nét mới về kiến trúc giai đoạn này là quan điểm hiện thực xâm nhập vào kiến trúc qua các vật liệu mới như [[thép]], [[bê tông]], [[thủy tinh|kính]] dày. Một nhà kiến trúc [[Louis Sulivan]] đã đưa vào các công trình kiến trúc tư tưởng công năng. Theo ông, các công trình kiến trúc phải được thiết kế phù hợp với chức năng của chúng. Chẳng hạn một [[ngân hàng]] hiện đại không thể giống một đền đài tôn giáo, một thương xá không thể giống một lâu đài trung cổ. Đặc biệt là kiến trúc hành chính thời kì này thể hiện một phong cách rõ rệt mà tiêu biểu là [[tòa nhà Quốc hội Mỹ]] (1793-1851) và [[tòa nhà Quốc hội Anh]] (1840-1865).
 
[[Thế kỷ 19]] đã đánh dấu bước ngoặt căn bản chuyển từ lao động bằng tay sang lao động bằng máy. Loài người đã chuyển từ nền [[văn minh nông nghiệp]] sang nền văn minh công nghiệp. Nền văn minh công nghiệp đã tạo ra cách nhìn mới, kéo theo những biến đổi lớn về [[chính trị]], [[văn hóa]], [[xã hội]]. Loài người bước vào một giai đoạn mới của văn minh nhân loại.
 
==Tham khảo==
{{tham khảo|2}}
== Liên kết ngoài ==
{{thể loại Commons|Industrial revolution}}
* {{dmoz|Society/History/By_Time_Period/Eighteenth_Century/Industrial_Revolution/}}
* [http://www.fordham.edu/halsall/mod/modsbook14.html Internet Modern History Sourcebook: Industrial Revolution]
* [http://www.dspace.cam.ac.uk/handle/1810/270 "The Day the World Took Off" Six part video series from the University of Cambridge tracing the question "Why did the Industrial Revolution begin when and where it did."]
* [http://www.bbc.co.uk/history/scottishhistory/enlightenment/features_enlightenment_industry.shtml BBC History Home Page: Industrial Revolution]
* [http://www.makingthemodernworld.org.uk/ National Museum of Science and Industry website: machines and personalities]
* [http://www.econlib.org/library/Enc/IndustrialRevolutionandtheStandardofLiving.html ''Industrial Revolution and the Standard of Living''] by Clark Nardinelli - the debate over whether standards of living rose or fell
* [http://www.galbithink.org/fw.htm Factory Workers in the Industrial Revolution]
* [http://www.revolutionaryplayers.org.uk/home.stm Revolutionary Players website]
* [http://www.industrial-revolution.info/ First and second industrial revolution]
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
{{Cách mạng công nghiệp}}
 
[[Thể loại:Cách mạng công nghiệp| ]]
[[Thể loại:Lịch sử công nghệ]]