Khác biệt giữa các bản “USS Wyoming (BB-32)”

Giữa hai cuộc thế chiến
(Giữa hai cuộc thế chiến)
|Ship out of service=[[1 tháng 8]] năm [[1947]]
|Ship renamed=
|Ship reclassified= '''BB-32''', [[17 tháng 7]] năm [[1920]]; <br/>'''AG-17''', [[1 tháng 7]] năm [[1931]]
|Ship reclassified=
|Ship struck= [[16 tháng 9]] năm [[1947]]
|Ship nickname= "Chesapeake Raider"
|Ship honors=
|Ship captured=
=== Chiến tranh Thế giới thứ nhất ===
Trong những tháng tiếp theo, ''Wyoming'' hoạt động tại khu vực [[vịnh Chesapeake]] cho đến ngày [[13 tháng 11]] năm [[1917]]; khi [[Chuẩn Đô đốc]] [[Hugh Rodman]] đặt cờ hiệu của mình trên thiết giáp hạm [[USS New York (BB-34)|''New York'']] như là Tư lệnh của Hải đội Thiết giáp hạm 9. Sau những chuẩn bị để "hoạt động xa", ''Wyoming'', ''New York'', [[USS Delaware (BB-28)|''Delaware'']] và [[USS Florida (BB-30)|''Florida'']] lên đường vào ngày [[25 tháng 11]] hướng sang [[quần đảo Anh Quốc]], và đã đến [[Scapa Flow]] thuộc [[quần đảo Orkney]] vào ngày [[7 tháng 12]] năm [[1917]]. Cho dù vẫn giữ lại tên gọi Hải đội Thiết giáp hạm 9 của Hải quân Mỹ, bốn chiếc thiết giáp hạm [[dreadnought]] này trở thành Hải đội 6 trực thuộc [[Hạm đội Grand Anh Quốc]] khi đi đến vùng biển Anh.
 
''Wyoming'' tiến hành các cuộc cơ động và thực tập chiến thuật cùng với các đơn vị của Hạm đội Grand cho đến ngày [[6 tháng 2]] năm [[1918]]. Ngày hôm đó, nó lên đường cùng với các tàu chiến khác của Hải đội Chiến trận 6 và tám [[tàu khu trục]] Anh Quốc để bảo vệ một đoàn tàu vận tải đi đến [[Stavanger, Na Uy]]. Trên đường đi, ''Wyoming'' đã phải cơ động né tránh khi phát hiện những làn sóng [[ngư lôi]] ngoài khơi Stavanger vào ngày [[8 tháng 2]], nhưng đã quay về Scapa Flow an toàn hai ngày sau đó. Trong những tháng tiếp theo, ''Wyoming'' tiếp tục tuần tra ngoài khơi quần đảo Anh Quốc, bảo vệ các tuyến đường biển thương mại chung quanh đó khỏi mối đe dọa của [[Hạm đội Biển khơi Đức]] vốn còn rất hùng mạnh.
 
Từ ngày [[30 tháng 6]] đến ngày [[2 tháng 7]] năm [[1918]], ''Wyoming'' hoạt động cùng với Hải đội 6 và một phân đội tàu khu trục Anh trong việc bảo vệ các tàu rải mìn Đồng Minh, khi chúng rải hàng rào mìn tại Bắc Hải. Sau đó, ''Wyoming'' quay trở về [[Firth of Forth]], nơi nó cùng với những đơn vị khác của Hạm đội Grand được Vua [[George V của Anh]] thị sát.
 
Mặc dù các tàu chiến chủ lực của Hoa Kỳ và Đức Quốc chưa từng chạm trán với nhau trong chiến đấu ngoài biển khơi, chúng đã có cuộc gặp gỡ. Vào ngày [[21 tháng 11]] năm [[1918]], mười ngày sau việc đình chiến kết thúc Thế Chiến I, ''Wyoming'', ''New York'', [[USS Texas (BB-35)|''Texas'']] và [[USS Arkansas (BB-33)|''Arkansas'']] tham gia cùng Hạm đội Grand Anh Quốc khi nó hộ tống Hạm đội Biển khơi Đức đi vào [[Firth of Forth]] để được lưu giữ theo những điều kiện của thỏa thuận ngừng bắn.
 
=== Những năm giữa hai cuộc thế chiến ===
Sau đó, mang cờ hiệu của Chuẩn Đô đốc [[William Sims]], Tư lệnh Đội thiết giáp hạm 9, ''Wyoming'' khởi hành vào ngày [[12 tháng 12]] năm [[1918]] từ [[đảo Portland]], [[Anh Quốc]] hướng sang [[Pháp]]. Sáng hôm sau, ngoài khơi [[Brest, Pháp|Brest]], nó cùng các thiết giáp hạm khác gặp gỡ chiếc [[USS George Washington (1908)|''George Washington'']], có sự hiện diện [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] [[Woodrow Wilson]] đang trên đường tham dự [[Hội nghị Hòa bình Paris]].
 
Sau khi phục vụ như đội hộ tống danh dự cho Tổng thống và đoàn tùy tùng, ''Wyoming'' đưa Đô đốc Sims quay trở lại [[Plymouth]] cùng với vị Đại sứ Hoa Kỳ vừa mới được bổ nhiệm tại Anh Quốc. Tiễn các vị hành khách đặc biệt rời tàu vào ngày [[14 tháng 12]], chiếc thiết giáp hạm chất lên tàu 381 bao thư tín, và trong vòng vài giờ lại khởi hành đi Hoa Kỳ. Đến [[thành phố New York]] vào ngày [[Giáng sinh]] năm [[1918]], nó ở lại đây trong dịp đầu năm mới [[1919]]. Vào ngày [[18 tháng 1]] năm [[1919]], nó trở thành soái hạm của Đội thiết giáp hạm 7, Hải đội 3, mang cờ hiệu của Chuẩn Đô đốc [[Robert Coontz]].
 
''Wyoming'' rời New York vào ngày [[1 tháng 2]], và sau các cuộc cơ động mùa Đông tại vùng biển Cuba đã quay trở lại lên phía Bắc, về đến New York vào ngày [[14 tháng 4]]. Tuy nhiên, nó nhanh chóng trở ra biển vào ngày [[12 tháng 5]], phục vụ như một đường dây liên lạc liên tục bắt ngang Đại Tây Dương dẫn đường cho [[khí cầu]] [[Curtiss NC]] trong chuyến bay vượt đại dương của nó. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ dẫn đường và quan trắc khí tượng, ''Wyoming'' quay trở lại Hampton Roads vào ngày cuối cùng của [[tháng 5]].
 
Sau khi nhận lên tàu các học viên mới và đưa họ thực hiện chuyến đi về phía Nam trong khu vực [[vịnh Chesapeake]]-[[Virginia Capes]], ''Wyoming'' đi vào [[Xưởng hải quân Norfolk]] vào ngày [[1 tháng 7]] để chuẩn bị phục vụ lâu dài tại [[Thái Bình Dương]]. Dàn pháo hạng hai được giảm còn 16 khẩu [[Hải pháo 5 inch/51 caliber|pháo {{convert|5|in|mm|abbr=on}}/51 caliber]].<ref name="breyer202"/> Trong ngày hôm đó, nó trở thành một đơn vị của [[Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ|Hạm đội Thái Bình Dương]] vừa mới được thành lập, được phân về Đội Thiết giáp hạm 4 trực thuộc Hải đội 6. Sáng ngày [[19 tháng 7]], hạm đội mới, dưới sự dẫn đầu của thiết giáp hạm [[USS New Mexico (BB-40)|''New Mexico'']], lên đường đi sang Thái Bình Dương. Đi qua [[kênh đào Panama]] không lâu sau đó, hạm đội đến [[San Diego, California]] vào ngày [[6 tháng 8]].
 
Chuyển sang [[San Pedro, California]] ba ngày sau đó, ''Wyoming'' hoạt động ngoài khơi cảng này cho đến mùa Thu. Sau một đợt đại tu tại [[Xưởng hải quân Puget Sound]] từ ngày [[15 tháng 9]] năm [[1919]] đến ngày [[19 tháng 4]] năm [[1920]], chiếc thiết giáp hạm quay trở lại căn cứ của nó tại San Pedro vào ngày [[4 tháng 5]]. Trong những tháng tiếp theo, nó thực tập ngoài khơi bờ biển Nam California; cũng vào giai đoạn này nó được xếp lại lớp từ "Thiết giáp hạm Số 32" thành '''BB-32''' vào ngày [[17 tháng 7]] năm [[1920]].
 
Khởi hành từ San Diego vào ngày cuối cùng của [[tháng 8]] năm [[1920]], ''Wyoming'' lên đường đi sang vùng biển [[Hawaii]], tiến hành các cuộc thực tập và cơ động tại đây trong suốt [[tháng 9]]. Quay trở lại San Diego vào ngày [[8 tháng 10]], ''Wyoming'' sau đó tiến hành các cuộc triển khai chiến thuật dọc theo bờ Tây lên phía Bắc đến tận [[Seattle, Washington]]. Rời [[San Francisco, California]] vào ngày [[5 tháng 1]] năm [[1921]], ''Wyoming'' trong những tuần lễ tiếp theo sau thực hiện thêm các cuộc thực tập huấn luyện và cơ động trải dài từ [[vịnh Panama]] cho đến [[Valparaíso]], [[Chile]], có sự thị sát của [[Tổng thống Chile]] [[Arturo Alessandri Palma]] vào ngày [[8 tháng 2]]. Quay trở lên phía Bắc, ''Wyoming'' đi đến Xưởng hải quân Puget Sound để sửa chữa vào ngày [[18 tháng 3]] và ở lại đây cho đến mùa Hè.
 
Sau khi hoàn tất việc sửa chữa, ''Wyoming'' đi xuống phía Nam, và vào ngày [[2 tháng 8]] đã đi đến [[Balboa, Panama]], nơi nó nhận lên tàu Chuẩn đô đốc Hugh Rodman cùng các thành viên của phái bộ [[Peru]] để đưa họ đến [[thành phố New York]]. Đến nơi vào ngày [[19 tháng 8]], nó tiễn các vị khách rời tàu, và vào xế trưa cùng ngày treo cờ hiệu của [[Đô đốc]] [[Hilary P. Jones]], Tổng tư lệnh Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ.
 
Trong 41 tháng tiếp theo, ''Wyoming'' hoạt động chủ yếu tại Đại Tây Dương ngoài khơi bờ biển phía Đông Hoa Kỳ, tham gia các cuộc tập trận của Hạm đội Đại Tây Dương kéo dài từ bờ biển New England cho đến Virginia Capes. Nó tham gia các cuộc cơ động thường lệ vào mùa Đông đến vùng biển Caribbe và Cuba, nhiều lần phục vụ như là soái hạm của Phó đô đốc [[John McDonald]], Tư lệnh Lực lượng Thiết giáp hạm và sau này là Tư lệnh Lực lượng Tuần tiễu, cũng như cho những vị kế nhiệm ông, các phó đô đốc [[Newton McCully]] và [[Josiah McKean]]. Trong thời gian này, con tàu được sửa chữa và tu bổ thường xuyên tại Xưởng hải quân New York; nó cũng tham gia một chuyến đi huấn luyện học viên mới vào mùa Hè năm [[1924]], đi đến [[Torbay, Anh Quốc]]; [[Rotterdam, Hà Lan]]; [[Gibraltar]] và [[quần đảo Azore]].
 
Rời New York vào ngày [[26 tháng 1]] năm [[1926]], chiếc thiết giáp hạm tiến hành tập trận tại vùng biển Cuba ngoài khơi vịnh Guatanamo, rồi đi qua kênh đào Panama vào ngày [[14 tháng 2]] gia nhập Hạm đội Chiến trận để thực tập dọc theo bờ biển [[California]]. ''Wyoming'' sau đó đi đến vùng biển Hawaii hoạt động tại đây từ cuối [[tháng 4]] đến đầu [[tháng 6]]. Sau khi viếng thăm San Diego trong các ngày [[18 tháng 6|18]]-[[22 tháng 6]], nó quay trở lại bờ Đông ngang qua kênh đào Panama, đi đến New York vào ngày [[17 tháng 7]] để tiếp tục các hoạt động ngoài khơi bờ biển New England. Sau các đợt huấn luyện và một chuyến đi đến Cuba và Haiti, nó trải qua đợt đại tu tại Xưởng hải quân New York từ ngày [[23 tháng 11]] năm [[1925]] đến ngày [[26 tháng 1]] năm [[1926]]. Vào giai đoạn trong ụ tàu, [[Trung tá Hải quân]] [[William F. Halsey, Jr.]] đến nhận nhiệm vụ trên con tàu ở cương vị sĩ quan cao cấp (thuyền phó); vị [[Thủy sư Đô đốc]] tương lai phục vụ cùng ''Wyoming'' cho đến ngày [[4 tháng 1]] năm [[1927]].
 
Sau đó ''Wyoming'' tham gia cuộc cơ động hạm đội mùa Đông hàng năm tại vùng biển Carribe, rồi quay trở lên phía Bắc, đến Annapolis vào ngày [[29 tháng 5]] để nhận lên tàu học viên sĩ quan cho chuyến đi huấn luyện mùa Hè. Sau khi ghé qua [[Newport, Rhode Island]]; [[Marblehead, Massachusetts]]; [[Portland, Maine]]; [[Charleston, South Carolina]] và vịnh Guantanamo, ''Wyoming'' quay trở về Annapolis vào ngày [[27 tháng 8]], tiễn các học viên sĩ quan rời tàu trước khi đi đến [[Xưởng hải quân Philadelphia]] để được hiện đại hóa.
 
Được cải biến các [[nồi hơi]] từ đốt [[than đá|than]] sang đốt [[dầu đốt|dầu]], ''Wyoming'' còn nhận được turbine mới, tăng cường các tấm đắp bảo vệ chống ngư lôi dưới mực nước cùng các cải tiến khác. Hoàn tất việc đại tu vào ngày [[2 tháng 11]] năm [[1927]], nó lên đường hướng về phía Nam đến Norfolk tiến hành chuyến đi chạy thử máy sau đại tu đến khu vực Cuba và [[quần đảo Virgin]] trước khi quay trở lại Philadelphia vào ngày [[7 tháng 12]]. Hai ngày sau, ''Wyoming'' treo lá cờ hiệu của Tư lệnh Lực lượng Tuần tiễu, Phó đô đốc [[Ashley Robertson]].
 
Trong những năm tiếp theo, ''Wyoming'' hoạt động ngoài khơi Norfolk, New York và [[Boston, Massachusetts]], thực hiện các chuyến đi huấn luyện cho các đơn vị Sĩ quan Hải quân Trừ bị được tuyển từ các đại học [[Đại học Yale|Yale]], [[Harvard]], [[Viện kỹ thuật Georgia|Georgia Tech]] và [[Đại học Northwestern|Northwestern]]. Nhiệm vụ này đưa nó đi khắp từ [[vịnh Mexico]] đến [[Nova Scotia]] và vào vùng biển Carribe cũng như đến quần đảo Azore. Trong một lượt hoạt động như thế, nó đã rời Hampton Roads vào ngày [[12 tháng 11]] năm [[1928]], và trong đêm [[13 tháng 11|13]]-[[14 tháng 11]] đã vớt được tám người sống sót từ chiếc [[SS Vestris|''Vestris'']], đưa họ lên bờ tại Norfolk vào ngày [[16 tháng 11]].
 
Được rút khỏi vai trò soái hạm của Lực lượng Tuần tiễu vào ngày [[19 tháng 9]] năm [[1930]], ''Wyoming'' sau đó lại trở thành soái hạm của Chuẩn đô đốc [[Wat T. Cluverius]], Tư lệnh Đội Thiết giáp hạm 2, và đảm trách vai trò này cho đến ngày [[4 tháng 11]]. Sau khi nhận cờ hiệu của Chuẩn đô đốc [[Harley H. Christy]], Tư lệnh Hải đội Huấn luyện thuộc Hạm đội Tuần tiễu, nó tiến hành chuyến đi huấn luyện trong vịnh Mexico, trong đó nó đã ghé thăm [[New Orleans, Louisiana]].
 
Quay trở lên phía Bắc sau chuyến đi, ''Wyoming'' được đưa về thành phần biên chế giảm thiểu tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày [[1 tháng 1]] năm [[1931]]; đây là nhằm chuẩn bị giải giáp và cải biến nó thành một tàu huấn luyện, theo những điều khoản của [[Hiệp ước Hải quân London]] năm [[1930]] để giới hạn việc chạy đua vũ trang hải quân. Nó được tháo dỡ các tấm đắp chống ngư lôi và đai giáp hông, tháo bỏ các khẩu pháo và máy móc tháp pháo của ba trong số sáu tháp pháo chính. Ngày [[21 tháng 5]] năm [[1931]], ''Wyoming'' được thay thế trong vai trò soái hạm của Hạm đội Tuần tiễu bởi chiếc [[tàu tuần dương hạng nặng]] [[USS Augusta (CA-31)|''Augusta'']], và bởi thiết giáp hạm [[USS Arkansas (BB-33)|''Arkansas'']] như là soái hạm của Hải đội Huấn luyện.
 
Sau khi hoàn tất việc giải giáp, ''Wyoming'' viếng thăm Annapolis, và từ ngày [[29 tháng 5]] đến ngày [[5 tháng 6]] năm [[1931]] đã đón các học viên sĩ quan của [[Học viện Hải quân Hoa Kỳ]] trong một chuyến đi sang vùng biển Châu Âu. Lên đường vào ngày [[5 tháng 6]], con tàu đang ở giữa Đại Tây Dương khi nó tiến đến trợ giúp chiếc [[tàu ngầm]] [[USS O-12 (SS-73)|''O-12'']] dưới quyền chỉ huy của nhà thám hiểm nổi tiếng người Anh Sir [[Hubert Wilkins]]. ''Wyoming'' đã kéo chiếc tàu ngầm bị hỏng đến [[Queenstown, Bắc Ireland]]. Trong chuyến đi, con tàu đã ghé qua [[Copenhagen, Đan Mạch]]; [[Greenock, Scotland]]; [[Cadiz, Tây Ban Nha]] và [[Gibraltar]] trước khi quay trở về [[Hampton Roads]] vào ngày [[13 tháng 8]]. Trong thời gian của chuyến đi, ký hiệu lườn của nó được thay đổi từ '''BB-32''' thành '''AG-17''' vào ngày [[1 tháng 7]] năm [[1931]].
 
== Tham khảo ==