Khác biệt giữa các bản “Giấy nhám”

n
replaced: ( → (, ) → ) (3), . → ., . <ref → .<ref (3), removed: Thể loại:Pages with unreviewed translations using AWB
(Tạo với bản dịch của trang “Sandpaper”)
n (replaced: ( → (, ) → ) (3), . → ., . <ref → .<ref (3), removed: Thể loại:Pages with unreviewed translations using AWB)
[[Tập tin:Schleifpapier_verschiedene_Sorten.jpg|nhỏ| Các tờ giấy nhám với các kích cỡ grit khác nhau (40 (thô), 80, 150, 240, 600 (mịn)). ]]
'''Giấy nhám''' hay '''giấy ráp''' <ref>{{Chú thích sách|title=[[Chambers 20th Century Dictionary]]|publisher=W & R Chambers Ltd|year=1983|isbn=0-550-10234-5|editor-last=E. M. Kirkpatrick|location=Edinburgh|pages=532}}</ref> (tiếng Anh: sandpaper/glasspaper) là tên được sử dụng cho một loại lớp mài mòn được tráng, bao gồm tờ [[giấy]] hoặc [[vải]] với chất liệu mài mòn dán vào một mặt. Trước đây người ta sử dụng vật liệu cát hay thủy tinh nhưng ngày nay chúng đã được thay thế bằng các chất mài mòn khác như nhôm oxit hoặc [[Cacborunđum|silic cacbua]]. Giấy nhám được sản xuất hàng loạt với các kích cỡ grit khác nhau và được sử dụng để loại bỏ vật liệu khỏi bề mặt, để làm cho chúng mịn hơn (ví dụ, trong vẽ tranh và hoàn thiện gỗ ), để loại bỏ một lớp vật liệu (như [[sơn]] cũ), hoặc đôi khi để làm cho bề mặt cứng hơn (ví dụ, như là quá trình chuẩn bị cho việc [[Keo|dán]] ). Người ta thường sử dụng tên của vật liệu mài mòn khi mô tả giấy nhám, ví dụ "giấy oxit nhôm" hoặc "giấy silic cacbua".
 
Kích thước grit của giấy nhám thường được nêu là một số có liên quan tỷ lệ nghịch với kích thước hạt. Một con số nhỏ như 20 hoặc 40 chỉ một hạt thô, trong khi một số lớn như 1500 chỉ một hạt mịn trên giấy nhám.
[[Tập tin:Schleifpapier_verschiedene_Sorten.jpg|nhỏ| Các tờ giấy nhám với các kích cỡ grit khác nhau (40 (thô), 80, 150, 240, 600 (mịn)). ]]
'''Giấy nhám''' hay '''giấy ráp''' <ref>{{Chú thích sách|title=[[Chambers 20th Century Dictionary]]|publisher=W & R Chambers Ltd|year=1983|isbn=0-550-10234-5|editor-last=E. M. Kirkpatrick|location=Edinburgh|pages=532}}</ref> (tiếng Anh: sandpaper/glasspaper) là tên được sử dụng cho một loại lớp mài mòn được tráng, bao gồm tờ [[giấy]] hoặc [[vải]] với chất liệu mài mòn dán vào một mặt. Trước đây người ta sử dụng vật liệu cát hay thủy tinh nhưng ngày nay chúng đã được thay thế bằng các chất mài mòn khác như nhôm oxit hoặc [[Cacborunđum|silic cacbua]]. Giấy nhám được sản xuất hàng loạt với các kích cỡ grit khác nhau và được sử dụng để loại bỏ vật liệu khỏi bề mặt, để làm cho chúng mịn hơn (ví dụ, trong vẽ tranh và hoàn thiện gỗ ), để loại bỏ một lớp vật liệu (như [[sơn]] cũ), hoặc đôi khi để làm cho bề mặt cứng hơn (ví dụ, như là quá trình chuẩn bị cho việc [[Keo|dán]] ). Người ta thường sử dụng tên của vật liệu mài mòn khi mô tả giấy nhám, ví dụ "giấy oxit nhôm" hoặc "giấy silic cacbua".
 
Kích thước grit của giấy nhám thường được nêu là một số có liên quan tỷ lệ nghịch với kích thước hạt. Một con số nhỏ như 20 hoặc 40 chỉ một hạt thô, trong khi một số lớn như 1500 chỉ một hạt mịn trên giấy nhám.
 
== Lịch sử ==
Phiên bản đầu tiên được ghi nhận của giấy nhám là ở [[Trung Quốc]] thế kỷ 13 khi vỏ, hạt và [[cát]] nghiền nát được kết dính với giấy da bằng kẹo cao su tự nhiên <ref>{{Chú thích tạp chí|last=Casey|first=Don|date=May 3, 2016|title=Know How: Sandpapers and Sanding|url=https://www.sailmagazine.com/diy/know-sandpapers-sanding|journal=Sail Magazine|access-date=1 February 2019}}</ref> . Da [[cá mập]] ( vảy placoid ) cũng đã được sử dụng như một chất mài mòn và vảy thô của [[hóa thạch sống]], [[Bộ Cá vây tay|Coelacanth]] được người bản địa của [[Comoros]] sử dụng cho cùng mục đích trên. <ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=Ex2Nr3lLzM0C&pg=PA60|title=Living Fossil: The Story of the Coelacanth|last=Thomson|first=Keith Stewart|publisher=W. W. Norton & Company Limited|year=1992|isbn=978-0-393-30868-6|archive-url=https://web.archive.org/web/20140627025033/http://books.google.com/books?id=Ex2Nr3lLzM0C&pg=PA60|archive-date=2014-06-27}}</ref> Sản phẩm luộc và sấy khô của [[Equisetum hyemale|cây đuôi ngựa thô]] được sử dụng ở Nhật Bản làm vật liệu đánh bóng truyền thống, mịn hơn giấy nhám. Giấy thủy tinh được sản xuất tại [[Luân Đôn|London]] vào năm 1833 bởi [[ John Oakey |John Oakey]], công ty đã phát triển các kỹ thuật và quy trình kết dính mới, cho phép sản xuất hàng loạt. Frit thủy tinh có các hạt sắc nhọn và cắt tốt trong khi các hạt cát được làm nhẵn và không làm chất mài mòn tốt bằng. Giấy nhám giá rẻ thường được gọi là giấy thủy tinh; Stalker và Parker đã cảnh báo hạn chế sử dụng nó trong ''A Treatise of Japaning and Varnishing'' xuất bản năm 1688. <ref name="Stalker & Parker 1688">{{Chú thích sách|title=A Treatise of Japaning and Varnishing|last=Stalker & Parker|publisher=Tiranti|year=1971|orig-year=1688}}</ref> Năm 1921, [[3M]] đã phát minh ra giấy nhám với bột [[Cacborunđum|silic cacbua]] và chất kết dính và chống thấm nước, được gọi là ''Wet and dry''. Điều này cho phép sử dụng nó với nước, sẽ đóng vai trò là chất bôi trơn để mang đi các hạt mà nếu không sẽ làm tắc nghẽn. Ứng dụng đầu tiên của giấy nhám này là trong việc sơn lại ô tô. <ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=NxNlGsE7EVwC&pg=PA234|title=Minnesota in a Century of Change: The State And Its People Since 1900|last=Jeffrey|first=Kirk|publisher=Minnesota Historical Society Press|year=1989|isbn=978-0-87351-238-1|editor-last=Clark|editor-first=Clifford Edward|page=234|chapter=The Major Manufacturers: From Food and Forest Products to High Technology|archive-url=https://web.archive.org/web/20140627122427/http://books.google.com/books?id=NxNlGsE7EVwC&pg=PA234|archive-date=2014-06-27}}</ref>
 
== Tham khảo ==
{{Tham khảo}}
 
[[Thể loại:Sản phẩm giấy]]
[[Thể loại:Phát minh của Trung Quốc]]
[[Thể loại:Pages with unreviewed translations]]