Khác biệt giữa các bản “Hippoglossus stenolepis”

không có tóm lược sửa đổi
(AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:28.4801866 using AWB)
{{tiêu đề nghiêng}}
{{speciesbox
| name = Pacific halibut
| image = Hippoglossus stenolepis.png
| image_caption = ''Hippoglossus stenolepis''
| genus = Hippoglossus
| species = stenolepis
| authority = [[Peter Yulevich Schmidt|P. J. Schmidt]], 1904
| range_map = pacific_halibut_range.PNG
| range_map_caption = Phạm vi sinh sống của ''Hippoglossus stenolepis''
}}
'''''Hippoglossus stenolepis''''' là một [[loài]] thuộc [[Pleuronectidae|họ Pleuronectidae]]. Đây là loài [[bộ Cá thân bẹt|cá thân bẹt]] sinh sông ở phía bắc Thái Bình Dương và bị đánh bắt bởi những người [[câu cá thương mại]], [[câu cá giải trí]] và [[câu cá nghệ thuật]].
 
Loài cá bơn này là [[cá tầng đáy]], sống trên hoặc gần đáy nước và ưa thích nhiệt độ nước từ {{convert|3|to|8|C|F|1|abbr=off}}. Loài này thuộc họ Pleuronectidae. Từ tháng 11 đến tháng 3, cá bơn trưởng thành tập trung hàng năm trên bãi đẻ trứng dọc theo rìa thềm lục địa ở độ sâu từ {{convert|183|to|457|m|ft|abbr=on}}.
 
Loài cá bơn này bơi khỏe và có thể di chuyển quãng đường dài. Mọi lứa tuổi và kích cỡ của loài này phần đông di cư chủ yếu theo chiều kim đồng hồ (tây bắc sang đông nam) từ các khu vực định cư của chúng (phần phía tây của Vịnh Alaska và Biển Bering), việc sinh sản cũng được thực hiện theo kiểu di cư theo mùa thường xuyên từ nơi kiếm ăn nông hơn vào mùa hè đến nơi sinh sản sâu hơn vào mùa đông.<ref name=annual2009>http://www.iphc.int/publications/annual/ar2009.pdf</ref>
 
==Đặc điểm==
''Hippoglossus stenolepis'' có hình dạng kim cương. Chúng thon dài hơn hầu hết các loài cá dẹt, chiều rộng thân bằng khoảng một phần ba chiều dài. Loài có một vòm tròn ở đường bên trên vây ngực, đuôi hình lưỡi liềm khác với các loài cá dẹp khác.<ref name=Schultz>Schultz, Ken. Ken Scultz’s Essentials of Fishing.John Wiley and & Sons, Inc., Hoboken, New Jersey, 2010. {{ISBN|978-0-470-44431-3}}, pp. 66-67</ref> Các vảy nhỏ được gắnđính vào da. Hai mắt của loài cá bơn này đều nằm ở mặt trên có màu sẫm. Màu sắc trên mặt sẫm khác nhau, nhưng có xu hướng giảsao địnhcho phù hợp theo màu sắc của đáy đại dương. Mặt dưới có màu nhạt hơn, có màu sắc giống với bầu trời nếu nhìn từ dưới lên. Sự thích nghi màu sắc này cho phép cá bơn ẩn nấp trước cả con mồi và bịcác động vật ăn thịt để không bị phát hiện. Chúng là một trong những loài cá dẹp lớn nhất (chỉ nhỏ hơn loài có quan hệ gần gũi là ''[[Hippoglossus hippoglossus]]'' có quan hệ gần gũi) và có thể nặng tới {{convert|500|lbs|kg|abbr=on}} cũng như phát triển tới chiều dài {{convert|8|ft|m|abbr=on}}.<ref name=FishWatch>[http://www.fishwatch.gov/seafood_profiles/species/halibut/species_pages/pacific_halibut.htm Pacific halibut] ''NOAA FishWatch''. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012.</ref>
 
==Tham khảo==