Khác biệt giữa các bản “Làng (Việt Nam)”

Dân làng chia ra hai hạng: dân nội tịch và dân ngoại tịch. Dân nội tịch là người sinh sống ở làng đã nhiều đời, có quyền tậu ruộng vườn. Dân nội tịch có tên trong sổ đinh. Dân ngoại tịch được coi là dân ngụ cư, tuy có thể đã sống trong làng nhiều năm nhưng không có tên trong sổ đinh và không được hưởng đầy đủ quyền lợi như dân nội tịch. Tùy vào hương ước và thông lệ từng làng mà dân ngoại tịch có thể đổi thành dân nội tịch.
 
===Thụ dịch & miễn dịchsai===
Tuy dân trong làng thì có đủ [[đàn ông]], [[đàn bà]], và [[trẻ con]] nhưng về mặt hành chánh thì đàn bà và trẻ con không có địa vị chính thức. Chỉ có đàn ông từ 16 tuổi trở lên thì coi là ''dân đinh'' có tên ghi vào sổ đinh để làng thu [[thuế]] và chịu sưu.