Khác biệt giữa các bản “Tất-đạt-đa Cồ-đàm”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
Thẻ: Soạn thảo trực quan Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
 
<gallery>
ImageTập tin:MayaDream.jpg|Giấc mơ thấy voi trắng vào bụng của Maya.
ImageTập tin:Queen Maya, Borobudur.jpg|Hoàng hậu Maya trên xe ngựa ghé qua Lumbini.
ImageTập tin:SiddhartaBirth.jpg|Thái tử ra đời từ hông phải gần Lumbini.
ImageTập tin:SudhodannaAndHisCourt.jpg|Vua Suddhodana và đoàn tùy tùng.
</gallery>
 
 
=== Đạt tới giác ngộ ===
Sau 65 năm tu khổ hạnh không đạt kết quả, Tất-đạt-đaSiddhārtha quyết định ăn uống bình thường trở lại, đến Giác Thành. Tất-đạt-đaSiddhārtha thường đến bờ sông Nairanjana (Ni-liên-thiền, hiện nay là sông [[Phalgu]]) ngồi thiền định trên bãi cát. Một hôm, có hai cô bé chăn bò tên Nanda và Bala đang dắt bò xuống sông tắm thì thấy Tất-đạt-đaSiddhārtha đang ngồi thiền định, họ sanh lòng kính mến liền tự tay vắt lấy sữa bò, nấu chín rồi dâng lên. Tất-đạt-đaSiddhārtha ăn xong cảm thấy thân thể khoẻ mạnh.
 
Ðến ngày thứ 49, Tất-đạt-đaSiddhārtha ngồi thiền định dưới gốc cây cổ-thụcổthụ Ajapala (cách cây Bồ-đề khoảng 150m về hướng đông), sắp đi khất thực, thì có hai chị em nàng [[Sujata]] (Tu-Xà-Đề), con ông trưởng làng Senani, mang bát cháo sữa (kheer) đến cúng vị Thần gốc cây để tạ ơn. Khi thấy Tất-đạt-đaSiddhārtha đang tĩnh tọa, hai nàng đặt bát cháo sữa bằng vàng trước mặt, cung kính đảnh lễ rồi ra về. Sau khi ăn xong bát cháo sữa, Tất-đạt-đaSiddhārtha thấy cơ thể khoẻ mạnh lạ thường nên không đi khất thực mà xuống sông Nairanjana tắm, tâm trạng ông vô cùng phấn chấn, cảm thấy sắp đạt thành tựu viên mãn.p
:Tương truyền rằng sau khi rửa bát xong, ông để cái bát bằng vàng trên dòng nước và nguyện rằng: ''"Nếu hôm nay ta được chứng quả thành Phật, thì nguyện cho cái bát nầy nổi trên mặt nước và trôi ngược lại dòng sông"''. Quả nhiên cái bát nổi trên mặt nước và trôi ngược lại dòng sông 80 sải tay, đến khi gặp phải một xoáy nước mạnh thì chìm xuống đáy sông, đúng nơi có 3 chiếc bát vàng của 3 vị Phật đắc đạo trước Tất-đạt-đaSiddhārtha trong Hiền kiếp này ([[Phật Câu Lưu Tôn]], [[Phật Câu Na Hàm Mâu Ni]], [[Phật Ca Diếp]])
 
Sau đó, Tất-đạt-đaSiddhārtha đi trở lên bờ, đến [[cội Bồ-đề]] ở [[Bodh Gaya|]] (Bồ-đề Ðề ÐạoĐạo Tràng]]) và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của [[Khổ (Phật giáo)|Khổ]]. Trước khi ngồi, ông thầm nghĩ làm thế nào có một tòa ngồi cho yên tĩnh, trang nghiêm. Bỗng thấy một em bé tên là Sotthiya Svastika (Cát-Tườngtường) gánh cỏ đi ngang qua đó, ông gọi lại hỏi xin một mớ cỏ để làm tòa ngồi. Em bé cung kính dâng ông sáu bó cỏ sắc (kusha) mềm mại và có hương thơm. Ông xấp cỏ thành tọa cụ và bồ-đoàn, ngồi kiết già, lưng thẳng đứng hướng về phía gốc cây, mặt hơi cúi xuống nhìn về hướng đông, phía bờ sông Nairanjana.
 
[[Tập tin:Mara demon nat and Buddha.JPG|thumb|300px|Tranh vẽ cảnh Mama vương Ba TuầnMara tìm cách ngăn chặn thái tử Tất-đạt-đaSiddhārtha đạt tới giác ngộ]]
Đêm hôm đó, Tất-đạt-đaSiddhārtha bắt đầu thực hành các pháp thiền định. Cuối cùng, ông đạt tới [[Diệt-Thọ-Tưởng định]] (Nirodha-samapatti), tỏa ra uy năng chiếu khắp Tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới). Ma vương Mara (Ba-tuần Tuần- (vua cõi trời Tha Hóa Tự Tại) không muốn ông đắc đạo, đã quấy nhiễu bằng nhiều phương thức, nhưng cuối cùng đều thất bại. Ba cô con gái của Mama Vươngvương tên là Tanhā (Ái Dục), Aratī (Bất Mãn) và Ragā (Tham Vọng) hóa ra ba nàng tiên tuyệt đẹp để quyến rũ, nhưng cũng chịu thất bại.
 
Sau khi hàng phục Mama Vươngvương xong, Tất-đạt-đaSiddhārtha tiếp-tục nhập Diệt-Thọ-Tưởng định và bắt đầu chứng đắc các đạo quả:
*Tận diệt các vi-tế phiền-não (Kammavasa) còn ẩn náu trong tâm làm nghiệp nhân cho sanhSinh-Tử tử luân hồiLuân-Hồi (Samsara). Ðến canh một đêm đó, ông chứng Túc-Mạng-Minh (Pubbe-nivasanussati-nana), biết rõ tất cả các tiền kiếp của ông (ở thời đại nào, tên gì, sanh trưởng thế nào, sinh sống ra sao, vui thích và đau khổ thế nào, tạo nghiệp gì, chết thế nào, rồi tái sinh thế nào...)
*Tận diệt các vi-tế vô-minh (Avidyasava). Ðến canh ba, ông chứng Thiên-Nhãn-Minh (Cutupapata-nana), biết rõ tất cả sự biến chuyển của vạn vật qua các giai-đoạn thành, trụ, hoại, không; và biết rõ tất cả chúng sanh (ở thời đại nào, tên gì, sanh trưởng thế nào, sinh sống ra sao, vui thích và đau khổ thế nào, tạo nghiệp gì, chết cách nào, rồi tái sinh thế nào...) Ông biết rõ tất cả nhân duyên nghiệp báo của chúng sinh, từ đó suy ra luật Nhân-Quả và Luân-Hồi.
*Tìm ra phương cách giúp chúng sinh chấm dứt phiền-não và vô-minh, đạt đến giác ngộ hoàn toàn, thoát ra khỏi vòng sanhSinh-tửTử luânLuân-hồiHồi. Ðến canh năm, ông chứng Lậu-Tận-Minh (Asavakkhaya-nana): Do đã biết rõ tất cả các tiền kiếp của chính bản thân mình và của mỗi chúng sinh, nên ông nhận thấy rõ-ràng đâu là khổ, đâu là nguyên nhân của khổ, đâu là hạnh phúc chân-thật vĩnh-cửu và làm thế nào để đạt được nó. Ông đã tìm ra Tứ-Diệu-Ðế Thánh Đế (Khổ, Tập, Diệt, Ðạo).
 
[[Tập tin:Buddha2.jpg|thumb|240px|Tranh vẽ cảnh thái tử Tất-đạt-đaSiddhārtha đạt tới giác ngộ]]
Theo sử Phật giáo, đó là ngày mùng 8 tháng chạp âm lịch năm Nhâm Thân (đầu năm 589 trước công nguyênTCN). Ở tuổi 35, Tất-đạt-đaSiddhārtha đã đạt tới giác ngộ, trở thành [[Phật toàn giác]], là bậc anuttara samma sambodhi (Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (anuttara samma sambodhi), là đức Phật Shakyamuni (Thích-Caca Mâu-Nini) với [[Thập hiệu]]:
#'''[[Như Lai]]''' (''tathāgata''), là "Người đã đến như thế" hoặc "Người đã đến từ [[cõi Chân như]]"; tuệ giác của Đức Phật như Mặt Trời soi sáng khắp thế gian, xóa tan đêm tối [[vô minh]].
#'''Ứng Cúng''' (''arahant''), dịch nghĩa là A La Hán, là "Người đáng được cúng dường", đáng được tôn kính.
#'''[[Thế Tôn]]''' (''buddhalokanātha'', ''buddhalokajyeṣṭha'', ''bhagavān''), là "[[Bậc giác ngộ]] được [[thế gian]] tôn kính"
 
Từ thời điểm đó, Tất-đạt-đaSiddhārtha biết mình là [[Phật]], là một bậc Giác ngộ, và biết rằng mình sẽ không còn tái sinh một lần nào nữa. Kinh nghiệm giác ngộ của Phật được ghi lại như sau trong kinh sách theo chính lời của Tất-đạt-đaSiddhārtha như sau<ref>MN 36, theo bản dịch Đức của H.W. Schumann, Chân Nguyên dịch Đức-Việt</ref>:
 
:''"... Sau khi hoàn lại sinh lực (sau khi tu khổ hạnh vô ích), ta chú tâm giải thoát khỏi những tư tưởng tham ái, bất thiện và đạt được sơ thiền, sau đó nhị thiền, tam thiền và tứ thiền (Tứ thiền), nhưng những cảm giác hỉ lạc này không để lại dấu vết gì trong tâm ta.''
 
:''Khi tâm ta được an tịnh, thanh lọc, không bị dục vọng cấu uế, nhạy bén, chắc chắn, bất động, ta hướng nó về những ký ức và nhận thức về các kiếp trước. Ta nhớ lại nhiều tiền kiếp, một, hai, ba, bốn, năm,..., trăm ngàn kiếp trước, nhớ những chu kì của thế giới. 'Nơi đó ta đã sống, tên của ta đã như thế, gia đình của ta là như thế, nghề nghiệp của ta, giai cấp xã hội của ta... Ta đã chết như vầy...'. Sự hiểu biết (sa. ''vidyā'', pi. ''vijjā'') đầu tiên này ta đã đạt được trong canh đầu <ref>từ 21 đến 24 giờ đêm</ref>...''
:''Sau đó ta chú tâm nhận thức về sự tiêu diệt các lậu hoặc (漏, sa. ''āsrava'', pi. ''āsava'') và nhìn nhận như thật: 'Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là phương pháp tiêu diệt khổ, đây là con đường tiêu diệt khổ', và khi ta nhận thức được điều này, tâm ta thoát khỏi dục vọng, ham muốn tồn tại, vô minh. Ta tự hiểu chân lý 'Tái sinh ta đã đoạn, cuộc sống tu tập của ta đã hoàn tất, ta đã hoàn thành những gì phải làm. Cuộc sống (khổ đau) này ta đã vượt qua'... Sự hiểu biết thứ ba này ta đã đạt được trong canh ba <ref>3 đến 6 giờ sáng</ref>...".''
 
Tất-đạt-đaSiddhārtha lúc đó biết rằng kinh nghiệm giác ngộ của mình không thể dùng ngôn từ hay bất cứ một cách nào khác để truyền đạt, cũng như ông thấy con người đã bị áp đảo bởi [[vô minh]], tham lam và thù hận nên họ rất khó có thể nhận ra "con đường giác ngộ", vốn rất sâu sắc và khó nắm bắt. PhậtSiddhārtha nghĩ rằng: ''"Giáo PhápphápNhư LaiTa đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi lý luận, rất tế nhị, chỉ có bậc hiền thánh mới thấu hiểu. Nếu Như Lai truyền dạy Giáogiáo Pháppháp ấy thì kẻ khác sẽ không hiểu được. Thật hoài công! Người còn mang nặng tham ái và sân hận không dễ gì thấu triệt. Người tham ái chìm đắm trong đêm tối, không thấy được Giáogiáo Pháppháp, vì bị tham ái bao phủ như đám mây đen kịch. Giáo Pháp đi ngược dòng đời, sâu kín, thâm diệu, khó nhận thức và rất tế nhị"''. Nên ông tiếp tục yên lặng ngồi quán chiếu tâm chúng sinh dưới gốc cây Bồ-đề một thời gian. Sau đó, có một vị [[Phạm Thiên]] là [[Sahampati]] đã thỉnh cầu Đức PhậtSiddhārtha hoằng dương Chánhchánh Pháppháp (trong thời xa xưa, tiền kiếp của vị Phạm Thiên này là bạn của Jotipala - tiền kiếp của Phật Thích CaSiddhārtha vào đời [[Phật Ca Diếp]]). Với lòng thương yêu chúng sinh, ông chấm dứt sự yên lặng và quyết định chuyển [[Pháp luân]]Luân, dựa vào căn cơ của chúng sinh để thuyết Pháp cứu độ. Từ đó ông có danh hiệu ''Shakyamuni'' (Thích-ca Mâu-ni'') — "Trí giả của dòng dõi ''Thích-ca''".
 
=== Thành lập tăng đoàn và truyền giảng giáo lý ===
Người dùng vô danh