Khác biệt giữa các bản “Chiến tranh Tám Mươi Năm”

không có tóm lược sửa đổi
| commander2 = {{flagicon|Spain|1506}} [[Philip II của Tây Ban Nha|Philip II]]<br>{{flagicon|Spain|1506}} [[Philip III của Tây Ban Nha|Philip III]]<br>{{flagicon|Spain|1506}} [[Philip IV của Tây Ban Nha|Philip IV]]
}}
'''Chiến tranh Tám mươi Năm''' hay còn được gọi là '''Chiến trànhtranh giành Độc lập Hà Lan''' (1568–1648)<ref>The Dutch States-General, for dramatic effect, decided to promulgate the ratification of the Peace of Münster (which was actually ratified by them on ngày 15 tháng 5 năm 1648) on the 80th anniversary of the execution of the Counts of Egmont and Horne, ngày 5 tháng 6 năm 1648. See Maanen, H. van (2002), ''Encyclopedie van misvattingen'', Boom, trang 68, ISBN 90-5352-834-2.</ref> là một cuộc nổi dậy của mười bảy tỉnh chống lại [[Felipe II của Tây Ban Nha]], người cai trị [[Hà Lan thuộc Nhà Habsburg]].
 
Trong giai đoạn đầu, Felipe II triển khai quân đội của mình và đập tan quân phiến loạn và giành lấy lại quyền kiểm soát tại hầu hết các tỉnh nổi dậy. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của [[Willem de Zwijger|Willem xứ Orange]], các tỉnh miền Bắc tiếp tục kháng cự và đánh bại quân đội của hoàng tộc [[Habsburg]], và thành lập Cộng hòa của bảy tỉnh Hà Lan. Sau đó cuộc chiến tiếp tục diễn ra, mặc dù cương thổ của họ không còn bị đe dọa. Chiến tranh kết thúc năm 1648 với việc Hòa ước Münster được ký kết, và nước Cộng hòa Hà Lan được chính thức công nhận là quốc gia độc lập.