Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Cao Phong Nguyên Diệu”

không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
 
==Hành trạng==
Sư nguyên họ '''Từ''' (徐), tự là '''Cao Phong''' (高峰), sinh ngày 23 tháng 3 (âl) năm [[Mậu Tuất]] (1238), nhằm niên hiệu Gia Hy thứ 2, đời vua [[Tống Lý Tông]] triều Nam Tống, tạinguyên vùngquán huyện [[Ngô Giang]], của xứphủ [[Tô Châu]] (thuổng tỉnh [[Giang Tô]] ngày nay.
 
Năm 15 tuổi, Sư phát tâm xuất gia, đến năm 17 tuổi thọ Cụ túc, khi tròn 18 tuổi theo học với Đại sư Pháp Trụ ở chùa Mật Ấn về [[Thiên Thai tông|giáo pháp Thiên Thai]] và ngộ được ý chỉ. Sau, Sư chuyên tâm tham mộ [[Thiền|thiền pháp]] nên đã đến cầu đạo với Thiền sư [[Đoạn Kiều - Diệu Luân]], tuy nhiên chưa tìm được sở đắc.
 
Sư đến pháp hội của Tổ sư [[Tuyết Nham Tổ Khâm]] để nhập chúng tu thiền. Biết Sư là bậc Long tượng sẽ phát dương quang đại cho thiền lâm sau này, nên Tổ sư đặc biệt chú ý giáo hoá. Mấy lần, Sư vừa mở miệng chưa kịp tham vấn đã bị Tổ sư Tuyết Nham đánh một gậy rồi đuổi ra, nhân khi đọc được bài “''Chơn tán''” của Đệ Thập Tổ sư [[Ngũ Tổ Pháp Diễn|Pháp Diễn]], Sư lãnh ngộ được yếu chỉ của việc bị đánh một gậy trên nên càng chú tâm hầu cận với Tổ sư Tuyết Nham.
Năm Kỷ Mão (1279) nhằm niên hiệu thứ 2, đời [[Tống đế Bính]] triều Nam Tống, Sư dựng một thảo am nhỏ ở hang Sư Tử trên núi Thiên Mục và đề hiệu là “''Tử Quan''”, trong 15 năm không hề bước chân ra khỏi cửa. Thiền phong Sư vang khắp chốn, đồ chúng tìm đến tham học ngày càng đông.
 
Vào ngày mồng 1 tháng 12(âl) năm [[Ất Mùi]] (1295), nhằm niên hiệu Nguyên Trinh năm đầu, đời vua [[Nguyên Thành Tông]], Sư thâu thần thị tịch, trụ thế 58 tuổi. Môn đồ lập tháp thờ Sư ở Tử Quan tại núi Thiên Mục.
 
Vua ban thụy hiệu cho Sư là Phổ Minh Quảng Tế Thiền sư.
 
Tác phẩm của Sư để lại gồm quyển ''Cao Phong - Diệu thiền sư ngữ lục'' và ''Cao Phong Hòa thượng thiền yếu''.
 
Đệ tử nối pháp là Thiền sư Minh Bổn.
 
==Tác phẩm==
* ''Cao Phong Diệu thiền sư ngữ lục''
* ''Cao Phong Hòa thượng thiền yếu''.
 
==Chú thích ==
241.778

lần sửa đổi