Khác biệt giữa các bản “John Crawfurd”

→‎Dân cư Việt Nam thời Minh Mạng[62]: Hoàn thành việc dịch các chương liên quan đến Việt Nam.
(→‎Dân cư Việt Nam thời Minh Mạng[62]: Hoàn thành việc dịch các chương liên quan đến Việt Nam.)
 
===== Dân cư Việt Nam thời Minh Mạng<ref>John Crawfurd (1828): [http://seasiavisions.library.cornell.edu/catalog/sea:010 Journal of an embassy from the Governor-General of India to the courts of Siam and Cochin-China: exhibiting a view of the actual state of those kingdoms]. SOUTHEAST ASIA VISIONS, Cornell University Library’s John M. Echols Collection. Volume 2. Chapter VII. From page 331-344.</ref> =====
Đàn ông Việt Nam cưới vợ ngay khi có đủ tiền, thường cần khoảng 40-50 quan tiền. Đàn ông bình dân hiếm khi kết hôn trước 20 tuổi, thường là 30. Người giàu thì thường kết hơn từ tuổi 15. Phụ nữ bình dân thường kết hôn từ 17-20 tuổi. Độ tuổi kết hôn ở Việt Nam có lẽ là thấp nhấp ở châu Á, cho thấy sự kiểm soát tăng dân số của nước này. [[Đa phu thê|Đa thê]] được cho phép, và những người vợ chỉ được xem là tài sản của các ông chồng. Vợ cả thường có địa vị cao hơn vợ bé, và vợ bé không khác gì hầu gái của bà lớn. Một cô gái không thể kết hôn mà trái ý cha mẹ. Hôn nhân là điều không thể phá vỡ, trừ phi cả hai vợ chồng cùng đồng ý [[ly hôn]]. Trước khi lấy chồng, phụ nữ Việt Nam được phép tự do, phóng túng. Sự mất [[trinh tiết]] của người con gái không phải là tội lỗi hay rào cản hôn nhân. Khi một cô gái chưa kết hôn có thai, tình nhân sẽ bị bắt phải cưới cô ấy với tiền cưới ít hơn bình thường. Nếu việc mang thai là chuyện bất lợi thì việc bí mật phá thai được nhiều người chấp nhận. Việc giết trẻ sơ sinh dù phổ biến ở Trung Quốc nhưng lại hiếm khi xảy ra ở Việt Nam, và nếu có, đó sẽ bị xem là phạm tội. Sau khi kết hôn, phụ nữ Việt Nam mất hết tự do. Tội ngoại tình sẽ bị giết, cả hai người phạm tội; đôi khi cũng được giảm nhẹ bằng hình phạt thể xác. Tội này không chỉ bị xem là vô đạo đức mà còn là ăn cướp tài sản [của người chồng]. Phụ nữ Việt Nam không bị giam hãm trong nhà như phụ nữ [[Tây Á]]. Một người chồng Việt Nam có thể đánh vợ rất nặng mà không bị luật pháp trừng trị. Khi ở làng Candyu [<nowiki/>[[Cần Giờ]]], Crawfurd đã thấy một phụ nữ cỡ 24-25 tuổi bị một nhóm đàn ông, đàn bà bắt nằm sấp mặt xuống đất, còn tên vũ phu thì nện ít nhất 50 roi lên cô ta. Chuyện đó xảy ra ngay giữa chợ nhưng ít có ai quan tâm.
 
Đàn ông Việt Nam phải làm nhiều việc lao dịch cho triều đình. Do đó phụ nữ phải làm thay đàn ông nhiều việc nặng nhọc như cày bừa, gặt hái, khuân vác, bán buôn, đổi tiền. Hầu hết các trường hợp, phụ nữ làm việc giỏi và thông minh hơn đàn ông. Nhưng điều khiến Crawfurd kinh ngạc nhất, chưa bao giờ biết ở đâu trên thế giới, đó là phụ nữ và đàn ông ở Việt Nam được trả lương bằng nhau. Không như những nơi khác trên thế giới, ở Việt Nam không có sự phân biệt lao động nam hay nữ. Nguyên nhân là do đàn ông bị cưỡng bức phục dịchlàm các công việc công cộng của triều đình quá mức, khiến phụ nữ phải làm việc nhà thay họ. Điều đó không có nghĩa là các ông chồng ở xứ này rất được các bà vợ yêu thương. Phụ nữ Việt Nam thích lấy chồng ngoại quốc hơn, nhất là người Hoa. Bởi vì người Hoa không bị bắt phải đi quân dịch hay lao động không công cho nhà nước; mà họ còn nuông chiều và chăm sóc vợ tốt hơn đàn ông bản xứ.
 
Không có nước nào ở châu Á phải gánh chịu sự tàn phá của những thảm họa nội chiến [<nowiki/>[[Nhà Tây Sơn|Tây Sơn]]] như nạn đói, bệnh dịch, cơ cực nhiều như Việt Nam. Cuộc nội chiến vừa qua kéo dài 28 năm với sự tàn bạo từ cả hai phía. Nông nghiệp đình trệ, giao thông bị cắt đứt và nạn đói xảy ra. Chapman đã miêu tả lại thảm cảnh ở Việt Nam lúc đó trong sách ''Account of a Mission from the Gorvernor-general of India to the King of Cochin China''. Hòa bình chỉ lập lại ở Việt Nam từ năm 1802, và dân số nước này đã tăng lên đáng kể. Sự tích trữ quá mức ngũ cốc của triều đình, với ý định phòng khi thiếu hụt hay nạn đói để đem ra phân phối, lại gây ra cái chết cho [[Thương mại Việt Nam thời Nguyễn|tự do thương mại]] [<nowiki/>[[kinh tế thị trường]]]. Chính sách cấm xuất khẩu gạo khiến cho giá gạo trong nước không thay đổi theo mùa.
 
Crawfurd không thấy người ăn xin ở [[Gia Định Thành]] hay [[Miền Trung (Việt Nam)|miền Trung]], nhưng ông nghe người Hoa bảo rằng ở [[Bắc Thành]] có rất đông ăn mày. Sự đàn áp của [[Nhà Nguyễn|triều Nguyễn]] còn tạo ra nhiều băng nhóm trộm cướp ở Gia Định Thành và Bắc Thành. Quan Thao Kun [<nowiki/>[[Lê Văn Duyệt|Tả Quân]]] đã làm giảm số lượng tội phạm ở Gia Định Thành từ 300 xuống còn 3-4 vụ một năm. Đó không phải là do ông ta cải tiến việc cai trị hay làm giảm sự bất bình, mà là thường xuyên thực thi việc hành hình. Người Việt hiếm khi di cư, bởi do luật pháp hạn chế và họ cũng phải trông nom mộ phần.
 
Về dân số Việt Nam thời Minh Mạng, [[Philippe Vannier|Vanier]] cho rằng dân số Việt Nam không quá 10 triệu. Crawfurd phỏng đoán, dân số Đế Quốc Việt Nam chỉ hơn 5.194.000 người và là một nước thưa dân. Theo [[Jean-Baptiste Chaigneau|Chaigneau]]: ''người Việt sống tập trung theo các con sông, cả nước có khoảng 15-20 triệu người. Dù đa thê được cho phép, nhưng đàn ông thực ra chỉ có một vợ; vợ lẽ chỉ là người giúp việc cho chủ. Khí hậu tốt và thực đơn chủ yếu gồm gạo và cá có lẽ là nguyên nhân tăng dân số Việt Nam. Thức ăn rẻ nên người ta không ngại sinh thêm con.''
 
=== Thống đốc thường trú tại Singapore ===