Khác biệt giữa các bản “Sông Tương”

không có tóm lược sửa đổi
'''Sông Tương''', còn gọi là '''Tương Giang''' hay '''Tương Thuỷ''' ([[tiếng Trung Quốc|tiếng Trung]]: 湘江 hay 湘水, [[bính âm Hán ngữ|pinyin]]: Xiāng Jiāng, Xiāng Shǔi; [[Wade-Giles]]: "hsiāng chiāng" hay "hsiāng shuǐ"), là một con sông chi lưu chính của sông [[Trường Giang]], chảy qua tỉnh [[Hồ Nam]], [[Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa|Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa]]. Sông này có diện tích lưu vực 94.721 km², tổng chiều dài 948 km, lưu lượng bình quân 72,2 tỷ m³ một năm.
 
==Đầu nguồn==
Theo truyền thống, sông Tương được coi là bắt nguồn từ ngọn núi gần thôn Thạch Trụ, hương Bạch Thạch, huyện [[Hưng An, Quế Lâm|Hưng An]], [[Quảng Tây|Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây]], Trung Quốc thuộc [[dãy núi Hải Dương]] và sau đó chảy qua địa phận tỉnh Hồ Nam đổ vào [[hồ Động Đình]].
Phần thượng nguồn hệ thống sông Tương có 2 nhánh lớn là nhánh phía Tây và nhánh phía Đông. Hai nhánh này hợp lưu tại phía tây quận [[Linh Lăng]].
TheoNhánh truyềnphía thốngTây, sôngtheo Tươngtruyền thống được coi là đầu nguồn của sông Tương. Nó bắt nguồn từ ngọn núi gần thôn Thạch Trụ, hương Bạch Thạch, huyện [[Hưng An, Quế Lâm|Hưng An]], [[Quảng Tây|Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây]], Trung Quốc thuộc [[dãy núi Hải Dương]] và sau đó chảy qua địa phận tỉnh Hồ Nam đổ vào [[hồ Động Đình]].
 
Đoạn dòng chảy từ đầu nguồn này có tên là sông Hải Dương (海洋河). Tại Bộc Phụ Đầu trong huyện [[Đông An]], [[Vĩnh Châu, Hồ Nam|Vĩnh Châu]] thì chảy theo hướng bắc, sau đó nhận thêm nước từ các sông: [[Tử Thủy]], [[Thạch Kỳ Hà]], [[Tiêu Thủy]], [[Ứng Thủy]], [[Kỳ Thủy]] và [[Bạch Thủy]]. Như là dòng chính truyền thống, nhánh phía tây bị nghi vấn rộng khắp tỉnh Hồ Nam theo ''Điều tra nguồn nước Trung Quốc năm 2011''.<ref>[http://www.chinadaily.com.cn/china/2011-12/20/content_14293419.htm chinadaily.com.cn (20-12-2011)] hoặc [http://www.chinadaily.com.cn/china/2011-03/18/content_12195217.htm chinadaily.com.cn (18-3-2011)]</ref>
 
Nhánh phía Đông cho tới nay được gọi là [[Tiêu Thủy|sông Tiêu]]. Con sông này bắt nguồn từ đỉnh Dã Cẩu (野狗岭), hương dân tộc Dao Tử Lương (từ 31/12/2016 là hương dân tộc Dao Tương Giang Nguyên), huyện [[Lam Sơn, Vĩnh Châu|Lam Sơn]], địa cấp thị [[Vĩnh Châu, Hồ Nam|Vĩnh Châu]], tỉnh Hồ Nam.
 
NămTrong năm 2011, Cục Thủy lợi tỉnh Hồ Nam lần đầu tiên tiến hành điều tra mối quan hệ giữa dòng chính và các chi lưu của hệ thống sông Tương. Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi Nam Kinh đã tính toán chính xác các dữ liệu liên quan tới con sông này, như chiều dài sông, diện tích lưu vực và lưu lượng bình quân nhiều năm của các chi lưu chính phía trên Bình Đảo (đảo trên sông tại Vĩnh Châu) trên sông Tương. Theo các kết quả được công bố thì đầudòng nguồnchính sôngtrước TươngLinh nằmLăng tại đỉnhsông Dã Cẩu (野狗岭)Tiêu, hươnghay dânđầu tộcnguồn Daosông TửTương Lương (từ 31/12/2016phảihương dân tộc Dao Tương Giang Nguyên), huyện [[Lam Sơn, Vĩnh Châu|Lam Sơn]], địa cấp thị [[Vĩnh Châu, Hồ Nam|Vĩnh Châu]], tỉnh Hồ Nam (đầu nguồn [[sông Tiêu]]) chứ không phải tại Hưng An như truyền thống công nhận. Sau khi xác định lại, sông Tương có chiều dài tổng cộng 948 km và diện tích lưu vực 94.721 km<sup>2</sup>.<ref>
 
Sau khi xác định lại, sông Tương có chiều dài tổng cộng 948 km và diện tích lưu vực 94.721 km<sup>2</sup>.<ref>
[http://news.sciencenet.cn/htmlnews/2013/5/278225.shtm 《湘江源头位置获得重新确定》,科學網新聞,2013-5-23]</ref><ref>[http://hn.rednet.cn/c/2013/05/22/3014413.htm 《湘江源头,为何误传千年》,紅眼湖南頻道轉載自湖南日報,2013/5/22]</ref>
 
Từ Linh Lăng tới Tương Âm về cơ bản sông chảy theo hướng tây nam - đông bắc.
 
Đoạn đầu nguồn có tên là sông Hải Dương (海洋河). Tại Bộc Phụ Đầu trong huyện [[ĐôngHành AnDương]], [[Vĩnh Châu, Hồ Nam|Vĩnh Châu]] thì chảy theo hướng bắc, sau đó nhận thêm nước từ các sông: [[Tử Thủy]], [[Thạch Kỳ Hà]], [[Tiêu Thủy]], [[Ứng Thủy]], [[Kỳ Thủy]] và [[Bạch Thủy]]. Tại [[Hành Dương]] thìTương nhận thêm nước từ [[Chưng Thủy]] và [[Lỗi Thủy]]. Tại huyện Hành Sơn nhận nước từ Mễ Thủy. Tại Lục Khẩu nhận nước từ Lục Thủy. Tại [[Tương Đàm]] nhận nước từ [[Liên Thuỷ (sông)|Liên Thuỷ]]. Tại thành phố [[Trường Sa, Hồ Nam|Trường Sa]] thì nhận thêm nước từ [[Lưu Dương Hà]] và [[Lao Lực Hà]]; tại Tân Khang của quận [[Vọng Thành]] nhận thêm nước từ [[Duy Thủy]] (沩水). Đến [[Hào Hà Khẩu]] ở huyện [[Tương Âm]] thì Tương Giang phân thành hai dòng cùng đổ vào [[hồ Động Đình]].
 
==Đặc điểm==
Hệ thống sông Tương nằm ở phía nam [[Trường Giang]], phía bắc [[Ngũ Lĩnh]]. Về phía đông có phân giới với hệ thống [[sông Cám]] là [[dãy núi La Tiêu]], về phía tây qua [[Hành Sơn|dãy núi Hành Sơn]] là [[sông Tư]].
 
 
Nhà thơ đời Tấn là [[Đào Tiềm]] (365-427) trong "Tặng Trường Sa công tộc tổ" có viết: "Diêu diêu Tam Tương, thao thao cửu giang" (Tam Tương xa xa, chín sông cuộn chảy). Ghi chép của [[Đào Chú]] (1779-1839) giải nghĩa thêm: "Từ nơi phát nguyên sông Tương đến nơi hợp với sông Tiêu gọi là Tiêu Tương; từ Lăng Tử khẩu đến nơi gặp [[sông Tư|Tư Thủy]] là Tư Tương; về phía bắc đến nơi gặp [[sông Nguyên|Nguyên Giang]] gọi là Nguyên Tương".
 
==Đầu nguồn==
Năm 2011, Cục Thủy lợi tỉnh Hồ Nam lần đầu tiên tiến hành điều tra mối quan hệ giữa dòng chính và các chi lưu của hệ thống sông Tương. Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi Nam Kinh đã tính toán chính xác các dữ liệu liên quan tới con sông này, như chiều dài sông, diện tích lưu vực và lưu lượng bình quân nhiều năm của các chi lưu chính phía trên Bình Đảo (đảo trên sông tại Vĩnh Châu) trên sông Tương. Theo các kết quả được công bố thì đầu nguồn sông Tương nằm tại đỉnh Dã Cẩu (野狗岭), hương dân tộc Dao Tử Lương (từ 31/12/2016 là hương dân tộc Dao Tương Giang Nguyên), huyện [[Lam Sơn, Vĩnh Châu|Lam Sơn]], địa cấp thị [[Vĩnh Châu, Hồ Nam|Vĩnh Châu]], tỉnh Hồ Nam (đầu nguồn [[sông Tiêu]]) chứ không phải tại Hưng An như truyền thống công nhận. Sau khi xác định lại, sông Tương có chiều dài tổng cộng 948 km và diện tích lưu vực 94.721 km<sup>2</sup>.<ref>
[http://news.sciencenet.cn/htmlnews/2013/5/278225.shtm 《湘江源头位置获得重新确定》,科學網新聞,2013-5-23]</ref><ref>[http://hn.rednet.cn/c/2013/05/22/3014413.htm 《湘江源头,为何误传千年》,紅眼湖南頻道轉載自湖南日報,2013/5/22]</ref>
 
==Thần thoại==