Khác biệt giữa các bản “John Crawfurd”

Cải thiện câu chữ.
(→‎Dân cư Việt Nam thời Minh Mạng[62]: Hoàn thành việc dịch các chương liên quan đến Việt Nam.)
(Cải thiện câu chữ.)
: ''Đối với cầu thủ [[cricket]] [[người Ailen]] cùng tên, xem [[:en:John Crawfurd (cricketer)|John Crawfurd (cricketer)]]''
 
{{Thông tin viên chức|name=Dr John Crawfurd|image=John Crawfurd.jpg|caption=|order=2nd|office=[[Thống đốc Singapore]]|term_start=ngày 27 tháng 5 năm 1823|term_end=ngày 15 tháng 8 năm 1826|predecessor=Major-Gen. [[William Farquhar]]|successor=''Abolished'' <br> ''Replaced by'' [[Governor of the Straits Settlements]]|birth_date={{Birth date|df=yes|1783|8|13}}|birth_place=[[Islay]], [[Argyll]], [[Scotland]]|death_date={{death date and age|df=yes|1868|5|11|1783|8|13}}|death_place=[[South Kensington]], [[London]], [[Anh]]|nationality=[[người Scotland]]|party=|otherparty=<!--For additional political affiliations-->|relations=|children={{unbulleted list|Margaret Campbell Crawfurd (daughter)|Horatia Charlotte Campbell Crawfurd (daughter)|Eleanor Charteris Crawfurd (daughter)|Walter Crawfurd (son)|[[Oswald John Frederick Crawfurd]] (son)}}|parents=<!-- overrides mother and father parameters -->|mother=Margaret Campbell|father=Samuel Crawfurd|residence=[[Argyll]], [[Scotland]]|education=|alma_mater=[[Đại học Edinburgh]]|occupation=bác sĩ phẫu thuật, [[Thống đốc Singapore]]|religion=|signature=|website=|footnotes=}} '''John Crawfurd''' [[Thành viên Hiệp hội Hoàng gia|FRS]] (13 tháng 8 năm [[1783]] - 11 tháng 5 năm [[1868]]) là một bác sĩ [[người Scotland]], nhà quản lý thuộc địa, nhà ngoại giao và đồng thời là tác gia. Ông được biết đến nhiều nhất với các tác phẩm về các ngôn ngữ [[châu Á]], sách ''History of the Indian Archipelago (Lịch sử [[Quần đảo Indonesia|Quần đảo Ấn Độ]]),'' và vai trò của ông trong việc thành lập [[Singapore]] với tư cách là vị [[Thống đốc Singapore|Thống đốc]] [[người(''British Anh]]Resident of Singapore'') cuối cùng của Singapore; vị trí của Thống đốcnày đã được thay thế bởi [[Thống đốc Các khu định cư Eo biển|Thống đốc Định cư Eo biển]].
 
== Đầu đời ==
Ông được sinh ra ở Islay, tại Argyll, [[Scotland]], là con trai của Samuel Crawfurd, một [[bác sĩ]] và bà Margaret Campbell; và ông được giáo dục tại trường học ở Bowmore. Ông theo bước chân của cha mình trong nghiên cứu y học và hoàn thành khóa học y khoa tại [[Đại học Edinburgh]] năm [[1803]], ở tuổi 20.<ref name="ODNB">{{Cite ODNB|id=6651}}</ref>
[[Tập tin:Bowmore_-_geograph.org.uk_-_15838.jpg|nhỏ|Bowmore ở Islay ngày nay.]]
Crawfurd gia nhập [[Công ty Đông Ấn Anh]], với tư cách là bác sĩ phẫu thuật của Công ty, và được đưa đến các tỉnh Tây Bắc của [[Ấn Độ]] (nay là [[Uttar Pradesh]]), làm việc tại khu vực xung quanh [[Delhi]] và [[Agra]] <ref name="IllustTimes">{{Chú thích báo|url=http://www.britishnewspaperarchive.co.uk/viewer/bl/0000357/18680516/062/0015|title=Obituary|date=ngày 16 tháng 5 năm 1868|work=Illustrated Times|accessdate =ngày 24 tháng 7 năm 2014|publisher=[[British Newspaper Archive]]}}</ref> từ 1803-1808. Ông phục vụ trong các chiến dịch của Baron Lake.<ref>[[Clements Robert Markham|Markham, Clements Robert]] (1881) ''The Fifty Years' Work of the Royal Geographical Society'', [https://archive.org/stream/fiftyyearsworkof00markiala#page/52/mode/2up p. 53].</ref>
 
== Ở Đông Nam Á ==
Crawfurd được gửi tới [[Penang]] vào năm [[1808]], nơi ông đã áp dụngtheo vào việc nghiên cứuhọc [[Tiếng Mã Lai|ngôn ngữ]] và văn hóa [[Tiếng Mã Lai|Malay]].<ref name="ODNB"/> Ở Penang, ông đã gặp [[:en:Stamford Raffles|Stamford Raffles]] (người đã khaixây phá thành phốdựng [[Singapore]] hiện đại) lần đầu tiên.
 
Vào năm [[1811]], Crawfurd đã đồng hành cùng Raffles trong [[:en:Invasion of Java (1811)|Cuộc xâm lược Java]] của [[:en:Gilbert Elliot-Murray-Kynynmound, 1st Earl of Minto|Lord Minto]], và thắngđánh bại người Hà Lan.<ref name="IllustTimes"/> Raffles được Minto bổ nhiệm làm Phó thống đốc [[Java]] trong suốt 45 ngày hoạt động và Crawfurd được bổ nhiệm vào vị trí Thống đốc thường trú tại TòaTriều ánđình [[Yogyakarta]] vào tháng 11 năm 1811. Ở đó, ông đã có một chính sách cứng rắn chống lại [[Sultan]] [[:en:Hamengkubuwana II|Hamengkubuwana II]]. Vị Sultan được khuyến khích bởi [[:en:Pakubuwono IV|Pakubuwono IV]] của [[Surakarta]] cho rằng ông ta có sự hỗ trợ trong việc chống lại người Anh; [người Anh] là những kẻ đứng về phía đối thủ của con ông ta là Thái tử [[:en:Hamengkubuwana II|Hamengkubuwana II]] và Pangeran Natsukusuma.<ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=0GrWCmZoEBMC&pg=PA148|title=A History of Modern Indonesia Since C. 1200|last=Ricklefs, Merle Calvin|publisher=Stanford University Press|year=2001|isbn=978-0-8047-4480-5|pages=148–9}}</ref> Cung điện của Quốc vương, [[Keraton Ngayogyakarta Hadiningrat|Kraton Ngayogogo Hadiningrat]], đã bị bao vây và chiếm giữ bởi các lực lượng do người Anh lãnh đạo vào tháng 6 năm 1812.<ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=0cGznRflQy4C&pg=PA118|title=Fluid Iron: State Formation in Southeast Asia|last=Day, Tony|date=2002|publisher=University of Hawaii Press|isbn=978-0-8248-2617-8|pages=118–}}</ref>
[[Tập tin:COLLECTIE_TROPENMUSEUM_Vrouwen_met_koopwaar_langs_de_weg_die_leidt_naar_de_poort_van_de_kraton_in_Jogjakarta._TMnr_60007923.jpg|trái|nhỏ| ''Kraton'' ở Yogyakarta, một cánh cổng trong một bức ảnh từ đầu thế kỷ 20. Cung điện được tạo thành từ Pendopo được bao quanh bởi một bức tường trắng.<ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=JUlvd1a14VEC&pg=PA167|title=Indonesia|last=Eliot, Joshua|last2=Capaldi, Liz|last3=Bickersteth, Jane|publisher=Footprint Handbooks|year=2001|isbn=978-1-900949-51-4|pages=167–}}</ref>]]
Là Thống đốc thường trú, Crawfurd cũng theo đuổi nghiên cứu [[ngôn ngữ Java]] và vun đắp mối quan hệ cá nhân với giới quý tộc và văn nhân Java. Ông đã bị ấn tượng bởi âm nhạc Java.<ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=uUEa8d-lTLEC&pg=PA31|title=Representing Non-Western Music in Nineteenth-century Britain|last=Zon, Bennett|publisher=University Rochester Press|year=2007|isbn=978-1-58046-259-4|pages=31–}}</ref>
[[Tập tin:Javanese_week.jpg|nhỏ|Dấu hiệu Java trong năm ngày trong tuần, được khắc bởi William Home Lizars từ ''Lịch sử Quần đảo Ấn Độ'' của Crawfurd.]]
Crawfurd đã được phái đi trong các phái bộ ngoại giao đến [[Bali]] và Celebes (nay là [[Sulawesi]]). Kiến thức của ông về văn hóa địa phương đã hỗ trợ chính phủ của Raffles ở Java. Tuy nhiên, Raffles muốn giới thiệu cải cách ruộng đất ở nơi cư trú [[Cirebon|Cheribon]]. Crawfurd, với kinh nghiệm của mình về [[Ấn Độ]] và ''zamindari'', là người ủng hộ "hệ thống làng xã" củatrong bộviệc sưuthu tậpthập doanhhoa thulợi. Ông phản đối những nỗ lực của Raffles để giới thiệu việc định cư cá nhân (''ryotwari'') vào Java.<ref>Bastin, John. "Malayan Portraits: John Crawfurd", in ''Malaya'', vol.3 (December 1954), pp.697–698.</ref>
 
== Ngoại giao ==
Java được trả lại cho [[người Hà Lan]] vào năm [[1816]] và Crawfurd trở lại Anh vào năm đó, không lâu sau đó trở thành [[Thành viên Hiệp hội Hoàng gia|thành viên của Hiệp hội Hoàng gia]] và chuyển sang viết lách.<ref name="ODNB"/> Trong một vài năm, ông được gọi trở lại [[Đông Nam Á]], với tư cách là một nhà ngoại giao; nhiệm vụ của ông ta thành công một cách hạn chế.[[Tập tin:View_of_the_city_of_Bangkok_1822.jpg|nhỏ|Quang cảnh thành phố Bangkok; từ "Tạp chí của một đại sứ quán từ tổng thống Ấn Độ đến tòa án của Siam và Cochin China"]]
Năm [[1821]], [[Công ty Đông Ấn Anh|Toàn quyền Ấn Độ]] lúc đó, [[:en:Francis Rawdon-Hastings, 1st Marquess of Hastings|Lord Hastings]] (Francis Rawdon-Hastings, 1st Marquess of Hastings), đã gửicử Crawfurd tới các triều đình của [[LịchVương sửtriều Thái LanChakri|Xiêm]] (nay là [[Thái Lan]]) và [[NamNhà KỳNguyễn|Cochinchina]] (nay là [[Việt Nam]]). Lord Hastings đặc biệt quan tâm đến việc tìm hiểu thêm về chính sách của Xiêm đối với các [[Bang của Malaysia|quốc gia]] phía bắc [[BangBán củađảo MalaysiaMã Lai|bán đảo Malay]], và chính sách của Việt Nam ([[Minh Mệnh]]) liên quan đến những nỗ lực của [[Pháp]] nhằm thiết lập [[Quan hệ Pháp – Việt Nam|sự hiện diện ở châu Á]]. Crawfurd du hành với các ghi chú lấy từ Horace Hayman Wilson về [[Phật giáo]], vì nó là kiến thức được hiểu vào thời điểm đó.<ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=Qj3zdIeEVNIC&pg=PA11|title=The British Discovery of Buddhism|last=Almond, Philip C.|date=1988|publisher=Cambridge University Press|isbn=978-0-521-35503-2|pages=11–}}</ref> Thuyền trưởng Dangerfield của [[quân đội Ấn Độ]], một nhà thiên văn học, nhà khảo sát và nhà địa chất khéo léo, làm trợ lý; Trung úy Rutherford chỉ huy ba mươi lính Sepoys; [[Lịch sử tự nhiên|nhà tự nhiên học]] George Finlayson là nhân viên y tế. Vợ của Crawfurd cũng đồng hành cùng Phái bộ.
 
Crawfurd du hành với các ghi chú lấy từ Horace Hayman Wilson về [[Phật giáo]], vì nó là kiến thức được hiểu vào thời điểm đó.<ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=Qj3zdIeEVNIC&pg=PA11|title=The British Discovery of Buddhism|last=Almond, Philip C.|date=1988|publisher=Cambridge University Press|isbn=978-0-521-35503-2|pages=11–}}</ref> Thuyền trưởng Dangerfield của [[quân đội Ấn Độ]], một nhà thiên văn học, nhà khảo sát và nhà địa chất khéo léo, kiêm trợ lý; Trung úy Rutherford chỉ huy ba mươi lính [[:en:Sepoys|Sepoys]]; [[Lịch sử tự nhiên|nhà tự nhiên học]] George Finlayson là nhân viên y tế. Vợ của Crawfurd cũng đồng hành cùng Phái bộ. Tàu John Adam, đóng ở Ấn Độ, có trọng tải 380 tấn, được dùng cho sứ mệnh.
Ngày 21 tháng 11 năm 1821, nhiệm vụ được khởi hành với tàu ''John Adam'' từ [[Sông Hooghly|sông Hoogly]] (bang [[Tây Bengal]], [[Ấn Độ]]), mất bảy ngày để lái buồm đi 140 dặm (225&nbsp;km) từ [[Kolkata|Calcutta]]. Crawfurd viết rằng, với sự hỗ trợ của máy hơi nước, tàu có thể được hạ thủy trong hai ngày mà không gặp khó khăn gì; sau đó thêm vào một chú thích: "Tàu hơi nước đầu tiên được sử dụng ở Ấn Độ, được chế tạo khoảng ba năm sau khi đoạn văn này được viết.... "
 
Ngày 21 tháng 11 năm [[1821]], nhiệm vụ được khởi hành với tàu ''John Adam'' từ [[Sông Hooghly|sông Hoogly]] (bang [[Tây Bengal]], [[Ấn Độ]]), mất bảy ngày để lái buồm đi 140 dặm (225&nbsp;km) từ [[Kolkata|Calcutta]]. Crawfurd viết rằng, với sự hỗ trợ của máy hơi nước, tàu có thể được hạ thủy trong hai ngày mà không gặp khó khăn gì; sau đó thêm vào một chú thích: "''Tàu hơi nước đầu tiên được sử dụng ở Ấn Độ, được chế tạo khoảng ba năm sau khi đoạn văn này được viết....'' ". Ngày 11 tháng 12 năm 1821, sứ đoàn ghé đảo [[Penang]] (Prince of Wales's Island), một thuộc địa của [[đế quốc Anh]].
 
=== Nhiệm vụ đến Siam ===
 
==== Các thông tin tiền trạm ====
Tàu John Adam rời [[Tây Ấn ĐộBengal]], đến [[Penang]] và [[Singapore]] trước khi sang Xiêm và Cochin China [Việt Nam]. Trước khi đến Việt Nam, Crawfurd thu thập được một số thông tin về nước này.
 
Ngày 29 tháng 12 năm 1821, tại đảo Penang, Crawfurd có cuộc trò chuyện với một ông lão người Hoa (Phúc Kiến) tên Che-wan, ông lão cho biết: "''[Triều đình Xiêm] ít có lòng thương người, [thua cả triều đình Việt Nam'']".<ref>John Crawfurd (1828): [http://seasiavisions.library.cornell.edu/catalog/sea:010 Journal of an embassy from the Governor-General of India to the courts of Siam and Cochin-China: exhibiting a view of the actual state of those kingdoms]. SOUTHEAST ASIA VISIONS, Cornell University Library’s John M. Echols Collection. Volume 1. Chapter 1. Page 23-30.</ref> Ngày 4 tháng 1 năm 1822, rời Penang, sứ đoàn có thêm 3 người thông dịch, trong đó một [[người Hoa]] rành [[tiếng Anh]] và [[Tiếng Mã Lai|Mã Lai]] sẽ được dùng cho việc thông dịch ở Việt Nam vì Crawfurd không thể tìm được ai biết [[tiếng Việt]].
 
Ngày 2 tháng 2 năm [[1822]], một junk (thuyền buôn lớn)<ref>Theo Crawfurd: '''''junk''''' là từ mà người châu Âu mượn từ chữ '''''jung''''' của tiếng Mã Lai, vốn để chỉ các thuyền buôn lớn.</ref> Cochin China đến Singapore, người chủ tàu cho Crawfurd biết rằng [[người Pháp]] (đa số là [[giáo sĩ]]) đang có mặt khá nhiều ở khắp các miền của Cochin China. Một tàu chiến nhỏ của Pháp đến cảng Hàn, hay Turan [<nowiki/>[[Đà Nẵng]]] năm [[1819]] và đòi chiếm nó. Vua [<nowiki/>[[Gia Long]]] bác bỏ và đuổi nó đi. Nhiều tàu buôn Pháp đã đến Cochin China sau hòa bình [<nowiki/>[[1802]]]; hai tàu buôn [[Hoa Kỳ]] cũng đã chở nhiều hàng hóa ở cảng [[Thành phố Hồ Chí Minh|Saigon]] hay Longnai [<nowiki/>[[Đồng Nai]]?] theo cách gọi của người Hoa. Ngày 10 tháng 2, Finlayson và Crawfurd ghé thăm các thuyền buôn Việt Nam, [[Triều Châu|Chin-chew]] hoặc [[Phúc Kiến|Fo-kien]], và Xiêm đang ghé Singapore. Thuyền Việt Nam có tải trọng 4.000 tạ Trung Quốc hay 240 tấn, thủy thủ đoàn có hơn 30 người. Chi phí đóng thuyền ở Xiêm và Việt Nam rẻ hơn ở Quảng Đông và Phúc Kiến. Thuyền Xiêm dùng [[Tếch|gỗ tếch]], thuyền Trung Quốc dùng gỗ linh sam, gỗ tùng. Thuyền trưởng tàu Việt Nam cho Crawfurd biết, vào lúc gió mùa Đông Bắc mạnh, ông ta mất 3,5 ngày để dong buồm từ Pulo Kondor [<nowiki/>[[Côn Đảo]]] tới [[Đảo Tioman|Pulo Timun]], tức khoảng cách 430 dặm.<ref>John Crawfurd (1828): [http://seasiavisions.library.cornell.edu/catalog/sea:010 Journal of an embassy from the Governor-General of India to the courts of Siam and Cochin-China: exhibiting a view of the actual state of those kingdoms]. SOUTHEAST ASIA VISIONS, Cornell University Library’s John M. Echols Collection. Chapter 2. Page 68-80</ref>
 
Tại Việt Nam, [[Minh Mạng]] lên nối ngôi Gia Long từ đầu năm [[1820]] và thực hiện nhiều chính sách khắt khe hơn cha mình. Minh Mạng cũng không có thiện cảm với [[Giáo hội Công giáo Rôma|đạo Công giáo]] và [[Châu Âu|người phương Tây]] nói chung.