Khác biệt giữa các bản “Edmund Roberts”

Sửa dịch máy.
(AlphamaEditor, thay ref lặp lại, Executed time: 00:00:11.1165205 using AWB)
(Sửa dịch máy.)
{{Thông tin nhân vật
| honorific prefix = [[Đặc phái]]
| tên = Edmund Roberts
| hình = <!-- just the filename, without the File: or Image: prefix or enclosing [[brackets]] -->
| tên khác =
| nổi tiếng = [[Hiệp ước Thân hữu và Thương mại Xiêm-Mỹ]]<br/> Hiệp ước Oman 1834
| công việc = [[Thương gia]]; [[Đặc phái viên]]
| người hôn phối = Catherine Whipple Langdon
| con cái = 11
}}
{{dịch thuật}}
'''Edmund Roberts''' (29 tháng 6 năm [[1784]] - 12 tháng 6 năm [[1836]]) là một [[Ngoại giao|nhà ngoại giao]] [[Ngườingười Mỹ|Mỹ]]. Ông được bổ nhiệm bởi Tổng thống [[Andrew Jackson]], từng là [[Công sứ|đặc phái viên]] đầu tiên của [[Hoa Kỳ]] thực hiện các công vụ ngoại giao đến [[Viễn Đông|vùng Viễn Đông]], ông đã cùng [[Phái bộ ngoại giao|các phái đoàn ngoại giao không thường trú]] tới [[Việt Nam]] (lúc đó họ gọi là Cochinchina), [[Thái Lan]] (lúc đó gọi là [[Siam]]), [[Muscat và Oman]] trong thời gian từ năm [[1832]] đến [[1836]].
 
Roberts đã ký kết hiệp ước với Thái Lan{{Sfn|United States Congress|1904|p=10}} và Said bin Sultan, Quốc vương của Muscat và Oman,{{Sfn|Davis|1873|p=602}} các hiệp ước được phê chuẩn tại [[Washington, D.C.|Washington, DC]] ngày 30 tháng 6 năm [[1834]]. Ông quay trở lại đó vào năm [[1836]] để trao đổi việc phê chuẩn với Oman và Thái Lan. Ông cũng thực hiện nỗ lực ngoại giao lần thứ hai trong việc đàm phán với triều đình nhà Nguyễn thời [[Minh Mạng]] ở Việt Nam (bấy giờ vẫn được người phương Tây quen gọi là Cochinchina).<ref>{{Chú thích web|url=http://finance.senate.gov/newsroom/ranking/release/?id=690d909b-e8a9-4d3e-8122-f147b1aaf875|tựa đề=Baucus Floor Statement on US-Oman Free Trade Agreement|tác giả=Max Baucus|lk tác giả=Max Baucus|ngày=ngày 29 tháng 6 năm 2006|website=|nhà xuất bản=[[Senate Committee on Finance]]|format=|ngày truy cập=|quote=That treaty with Oman was part of a bigger picture. That bigger picture included Siam — today's Thailand — and Cochin China — today’s Vietnam. Edmund Roberts also traveled to those countries to initiate broader commercial ties.}}</ref> Ông bị bệnh nặng [[Lỵ|bệnh kiết lị]] nặng, không thể lên bờchếtsau đó mất ở thuộc địa [[Ma Cao thuộc Bồ Đào Nha|Macau]] của [[Đế quốc Bồ Đào Nha]], điều này khiến ông không thể trở thành đặc phái viên đầu tiên của Mỹ đến triều đình [[Thời kỳ Edo|Edo Nhật Bản]].<ref name="Griffis">{{Chú thích báo|url=https://timesmachine.nytimes.com/timesmachine/1905/08/06/101759528.pdf|title=Edmund Roberts, Our First Envoy to Japan|last=Griffis|first=Williom Elliot|date=ngày 6 tháng 8 năm 1905|work=[[The New York Times]]|accessdate =ngày 23 tháng 4 năm 2012|page=SM2}}</ref>{{Sfn|Cole|1941|pp=497-513}}
 
== Cuộc đời ==
Roberts sinh ngày 29 tháng 6 năm [[1784]], mẹ là Sarah Griffiths, bà sống ở [[Portsmouth, New Hampshire]]; cha là Thuyền trưởng [[Hải quân Hoàng gia Anh]] Edmund Roberts,<ref>
{{Chú thích sách|url=http://www.dcnyhistory.org/bioindex.html|title=Biographical Review|date=ngày 27 tháng 1 năm 2011|publisher=Biographical Review Publishing Company (at Delaware County, NY Genealogy and History Site)|isbn=|location=Boston|chapter=Section 4|quote='''BELL BROTHERS.'''...Frances Lear Roberts, wife of Calvin H. Bell, was the youngest daughter of Edmund and Catharine Whipple (Langdon) Roberts, of Portsmouth, N.H.... The Roberts family are of English ancestry... Their grandfather was Captain Edmund Roberts, of the British navy; and their father was Edmund Roberts, Envoy Extraordinary and Minister Plenipotentiary of the United States to several Asiatic courts. He died at Macao, China, ngày 12 tháng 6 năm 1836, and was buried there.|accessdate =ngày 11 tháng 2 năm 2013|orig-year=First published in 1895|chapter-url=http://www.dcnyhistory.org/books/breview4.html}}</ref> ông chếtmất ngày 15 tháng 11 năm 1787 và được an táng tại Nghĩa trang North Cemetery<ref>{{Chú thích web|url=http://gravematter.com/edmundroberts.htm|tựa đề=In Memory of Capt. Edmund Roberts who departed this life Nov. 15, 1787.|ngày=ngày 23 tháng 6 năm 2006|website=Gravestone images|nhà xuất bản=A Very Grave Matter|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20101202200515/http://gravematter.com/edmundroberts.htm|ngày lưu trữ=2010-12-02|ngày truy cập=ngày 5 tháng 5 năm 2012|quote=image © 2004 Gravematter.com}}</ref>. Cậu bé Edmund, ở tuổi 13, thôngnhờ quasự giúp đỡ của một nghị sĩ, đã được nhận vào giúp việc trong các cơ sở của Hải quân Hoa Kỳ. Nhưng cậu đã từ bỏ dịp đó để theo mong muốn của mẹ mình là ở nhà, khi bà còn sống. Roberts xuất ngoại và đã đến cư trú tại [[Luân Đôn]], [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Anh Quốc]] và sống ở đó cho đến năm 24 tuổi. Ông trở về Mỹ năm [[1808]], ông kết hôn với cô Catherine Whoop Langdon &#x2014; con gái của [[Thẩm phán]] Woodbury Langdon và là cháu gái của [[Thống đốc]] John Langdon,<ref>{{Chú thích web|url=http://www.accessgenealogy.com/scripts/data/database.cgi?file=Data&report=SingleArticle&ArticleID=0001473|tựa đề=Calvin Howard Bell Family|ngày=ngày 23 tháng 4 năm 2012|website=extract from Bell Family History|nhà xuất bản=Access Genealogy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20111104133817/http://www.accessgenealogy.com/scripts/data/database.cgi?file=Data&report=SingleArticle&ArticleID=0001473|ngày lưu trữ=2011-11-04|ngày truy cập=ngày 19 tháng 4 năm 2012|quote=Judge Woodbury Langdon, of Portsmouth, N. H.; Delegate to the Continental Congress, 1779; President of N. H. Senate, 1784; Judge of the Superior Court of N. H., 1782-91....(a) Catherine Whipple Langdon: m. 1808, Edmund Roberts, of Portsmouth, N. H.}}</ref> cả hai đều tham gia vào hải trình thương mại tam giác New England giữa [[Portsmouth]], [[Vùng Caribe|Caribbean]] và Luân Đôn; là những công dân giàu có và quyền lực nhất của Portsmouth lúc đó. Trong số 11 người con của cặp vợ chồng, 8 người còn sống trước khi cha mẹ qua đời.<ref name="Griffis"/>
 
=== Cuộc sống vào thời kỳ "thống nhất các tiểu bang" ===
Roberts tham gia vào hải trình thương mại tam giác ở New England với tư cách là chủ tàu và tàu chở hàng cỡ lớn của riêng mình, nhưng ông không bao giờ làm thuyền trưởng.
 
Robert Hopkins Miller kể rằng Roberts đã đánh mất sự giàu có qua hàng loạt các biến cố, nhưng đã có cơ hội vào năm [[1823]] khi ông được bổ nhiệm làm [[Lãnh sự]] Hoa Kỳ tại Demerara (nay thuộc [[Guyana]]). Tuy nhiên, Miller đã đến nhầm Demerara (trên bờ biển phía đông châu Phi (thực tế nó nằm ở bờ đông Nam Mỹ) vào thời gianquên diễnnhắc ratới cuộc nổi loạn Demerara vào năm [[1823]].{{Sfn|Miller|1990|p=23}}
 
"''Cuộc nổi dậy năm 1823 có một ý nghĩa đặc biệt... [trong đó nó] không thu hút được sự chú ý ở [[Anh|nước Anh]] trong và bên ngoài [[Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Quốc hội]] về chế độ nô lệsự xấu xa khủng khiếp của chế độ nô lệ và cần phải xóa bỏ của nó.''"{{Sfn|Grange|2009|p=149}} Quan điểm riêng của Roberts đề cập những gì diễn ra tại Demerara không chỉ là một cuộc nổi dậy nô lệ. Chính ác cảm mãnh liệt của ông đối với chế độ nô lệ đã tạo nên thái độ trong lập trường chính trị của ông sau này, gánnơi ghép hoạtngười độngdân củabị đối xử như nô lệ đểcủa nhằm chốngnhà vua Anh. Đến năm [[1827]], ông thiệtgần hạinhư mất hết tài sản cá nhân bởi các cuộcsự tấncạnh côngtranh của thương nhân [[Pháp]] và [[Tây Ban Nha]] nhằm vào các tàu của ông ở [[Tây Ấn]], ông đã cho tàu ''Mary Ann'' buôn bán ở [[Ấn Độ Dương]]. Roberts đến cảng [[Thị trấn Đá Zanzibar|Zanzibar]] vào tháng 10 năm 1827, và năm sau, ông có một cuộc trao đổi với Said bin Sultan, [[Sultan]] của [[Muscat và Oman]], vị vua rất lo lắng với ảnh hưởng của nước Anh và để đối trọng với điều này ông ta yêu cầu Roberts hộ tống một số tàu tới [[Hoa Kỳ]] để kiến nghị thương mại; Roberts hứa sẽ trình yêu cầu đó lên [[Chính quyền liên bang Hoa Kỳ|Chính phủ Hoa Kỳ]]. Khi trở về, ông đã viết cho [[Thượng nghị sĩ]] Hoa Kỳ [[Levi Woodbury]], một người bạn của ông<ref name="Griffis"/> về các khó khăn trong vận chuyển hàng hải của Mỹ, có thể giảm bớt bằng cách đàm phán các hiệp ước thương mại.{{sfn|Roberts|1837|p=5}}
 
=== Đến cảng xa nhất của Ấn Độ giàu có ===
[[Tập tin:Seal of Salem, Massachusetts.png|nhỏ|Latin: ''Div viêm Indiae usque ad ultimum sinum'']]
Sự nghiệp ngoại giao của Roberts được thiết lập bằng sự thương mại của [[Salem]] với [[Trung Quốc]] và [[Đông Ấn]]. TheoĐược đuổithúc đẩy bởi các thành viên của Hiệp hội Hàng hải Đông Ấn, được thành lập vào năm 1799 và bao gồm những người đã đi thuyền vượt qua [[Mũi Hảo Vọng]] hoặc [[Cape Horn|Mũi Sừng]] với tư cách là Thuyền trưởng bậc thầy hoặc siêu tàu (supercargo), đã đóng góp cho sự khởi đầu của quan hệ quốc tế Hoa Kỳ trong giai đoạn [[1788]] đến [[1845]]. Từ năm [[1826]] đến [[1832]], John Shillaber, lãnh sự Hoa Kỳ tại [[Jakarta|Batavia]], đã gửi một loạt thư cho thấy ông được trao quyền để đàm phán các hiệp ước thương mại.<ref name="Gedalecia">{{Chú thích tạp chí|last=Gedalecia|first=David|date=Winter 2002|title=Letters from the Middle Kingdom: The Origins of America's China Policy|url=https://www.archives.gov/publications/prologue/2002/winter/gedalecia-1.html|journal=Prologue Magazine|publisher=U.S. National Archives and Records Administration|volume=34|issue=4|pages=|doi=|id=|accessdate =ngày 15 tháng 7 năm 2012|quote=Shillaber was appointed consul on ngày 23 tháng 7 năm 1824, and served from ngày 14 tháng 2 năm 1825, until October 1832. He officially resigned in China on ngày 10 tháng 6 năm 1835. Office of the Historian, Department of State, Washington, D.C., electronic communication, Dec. 17, 2001.}}</ref> [[Martin Van Buren|Martin van Buren]] đã trả lời trong một lá thư ngày 13 tháng 12 năm [[1830]], gửi qua chữ ký của thư ký Daniel Brent, yêu cầu một kiến thức chính xác hơn về bản chất và đặc điểm của các chính phủ trong câu hỏi, và chi tiết hơn về những khó khăn gặp phải. {{Rp|p.30}} Các vấn đề nảy sinh sau khi Charles Moses Endicott, chủ nhân của tàu thương mại ''Friendship'' của Salem, tham gia buôn bán gia vị ở bờ biển [[Sumatra]], quay trở về Mỹ để báo cáo với tàu ''Thống đốc Endicott'', cũng của Salem, và tàu ''James Monroe'' ở New York, rằng ông đã chiếm lại được tàu của mình từ [[Cướp biển|những tên cướp biển]], kẻ đã cướp bóc nó, giết chết nhiều thuyền viên. {{Rp|p.121}} Trước sự phản đối kịch liệt của công chúng, [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] [[Andrew Jackson|Jackson]] đã ra lệnh cho Đại tá hải quân John Downes của [[Tàu frigate|tàu khu trục]] {{USS|Potomac|1822|2}}, nơi đang chuẩn bị ra khơi cho bờ biển phía tây, chuyển sang thám hiểm [[Sumatra|Sumatran]], rời cảng [[Thành phố New York|New York]] vào ngày 19 tháng 8 năm 1831.
 
== Các sự kiện tiếp theo ==
[[Tập tin:USS_Peacock_1813.jpg|phải|nhỏ| ''Peacock (Con công)''. Alfred T. Mã nãoAgate. Bút chì.]]
Vận may ủng hộ Roberts. Người bạn của ông là Woodbury, người đang là thượng nghị sĩ, đãđang rấtbị bứcáp xúclực vì sự chiếmgia đoạttăng củacướp hảibóc quânhàng khihải thì ông nhận được thư của Robert về nhu cầu đàm phán thương mại,. Woodbury vừa trở thành [[Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ|Bộ trưởng Hải quân]] củadưới thời Tổng thống Jackson và nhìn thấy đây là một cơ hội. Vì tàu ''Potomac'' đang được nhổ neo, tàu schooner {{USS|Boxer|1832|2}} được sắp được vận hành; {{USS|Peacock|1828|2}}, vốn được trang bị để [[Thám hiểm|thăm dò]] nhưng do thiếu tiền nên chuyển hướng sang làm nhiệm vụ ở [[Tây Ấn]], đã được gọi quay trở lại để tu chỉnh. Woodbury đã thuyết phục Jackson gửi cả 10 tàukhẩu súng để hỗ trợ ''Potomac'' &#x2013; với Roberts là "đặc phái viên" của Jackson. "Chỉ thị cho đặc vụ Edmund Roberts" của Ngoại trưởng Edward Livingston đã ký ngày 27 tháng 1 năm [[1832]], ra lệnh cho ông ta lên tàu ''Peacock'' trong vỏ bọc thư ký thuyền trưởng, mục đích của nhiệm vụ của ông ta được che giấu ngoại trừ thuyền trưởng và những người cần biết; trong khi đi qua, anhông ta đãphải thu thập càng nhiều càng tốt những kiến thức mà Shillaber yêu cầu trước đó; nhiệm vụ của ông với tư cách là phái viên sẽ bắt đầu tại [[NamViệt KỳNam|Cochin-China]] (Việt Nam). Livingston đã thêm một phần tái bút rằng Roberts sẽ nhận được $6 mỗi ngày. {{Rp|pp.308–9}} Jackson sau đó đã giải thích với Thượng viện trong thông điệp ngày 30 tháng 5 năm 1834, "Các chi phí của đặc quanphái viên đã được đưa ra khỏi quỹ dự phòng cho [[Chính sách đối ngoại]]". {{Rp|p.21}}
 
Vào giữa tháng 2 năm 1832, tàu ''Boxer'' được phái đến [[Liberia]], với lệnh gia nhập ''Peacock'' ngoài khơi bờ biển [[Brasil|Brazil]], nhưng các con tàu đã không gặp nhau cho đến ngày 5 tháng 6 năm [[1834]] &#x2013; ở [[Batavia, Đông Ấn Hà Lan|Batavia]].{{Sfn|Roberts|1837|p=327}} Vào tháng 3 năm 1832, ''Peacock'' chạy tàu tới Brazil dưới sự chỉ huy của Tư lệnh David Geisinger, với Francis Baylies được bổ nhiệm [[Đại biện|Đại biện lâm thời d'affaires]] ở [[Buenos Aires]] và Phái viên bí mật Roberts. Ông được phác thảo một hải trình dựa theo cuốn sách được xuất bản hai năm trước bởi [[John Crawfurd]] khi làm nhiệm vụ Đại sứ cho [[Công ty Đông Ấn Anh|Công ty Đông Ấn]] vào năm [[1822]] ở [[Siam]] và [[Việt Nam|Cochinchina]]. Roberts, trong cả hai báo cáo của mình với [[Chính quyền liên bang Hoa Kỳ|Chính phủ]] {{Rp|p.305}} và trong tạpnhật chí của mình, trích dẫn trang 269 bản sao của ông [[John Crawfurd|Crawford]]{{sic}} {{Sfn|Roberts|1837|p=198}} &#x2013; trang 414 trong ấn bản thứ hai của Crawfurd.<ref name="Crawfurd">{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/?id=sAUPAAAAYAAJ|title=Journal of an Embassy from the Governor-general of India to the Courts of Siam and Cochin China|last=Crawfurd|first=John|date=ngày 21 tháng 8 năm 2006|publisher=H. Colburn and R. Bentley|edition=2nd|volume=Volume 1|location=London|pages=475 pgs|nopp=y|chapter=|oclc=03452414|quote=|author-link=John Crawfurd|accessdate =ngày 2 tháng 2 năm 2012|orig-year=First published 1830|archive-url=https://archive.org/details/journalanembass04crawgoog|archive-date = ngày 10 tháng 10 năm 2007}}</ref>
 
''Tàu Boxer'' đã thất bại trong thời gian được chỉ định, các đơn đặt hàng đã được để lại tại [[Montevideo]] để tàu có thể đến nhanh [[Bengkulu|Bencoolen]]. ''Peacock'' đi qua [[Cape Horn]] và tới Bencoolen vào ngày 23 tháng 8 năm [[1833]]; [[Đông Ấn Hà Lan|Thống đốc Hà Lan]] báo cáo ''Potomac'' đã hoàn thành nhiệm vụ của mình,{{Sfn|Roberts|1837|p=32}} do đó tàu ''Peacock'' được tự do để tiếp tục cho Roberts thực hiện nhiệm vụ.
 
== Nhiệm vụ đầu tiên của Roberts ==
Theo lệnh thu thập thông tin trước khi đến [[Việt Nam|Cochinchina]], ''Peacock'' đi thuyền đến [[Manila]] bằng cách đến Long[[:en:Lang Island|Lang Island]] và [[Krakatau|Crokatoa]], nơi [[suối nước nóng]] được tìm thấy ở phía đông của đảo {{Convert|150|ft|m}} từ bờ sôi lên dữ dội, qua nhiều dòng nước. Máy đo thời gian hàng hải của tàu ''Peacock'' vô dụng, nó luồn vào các [[eo biển Sunda]]. [[Tiêu chảy]] và [[Lỵ|kiết lỵ]] là bệnh phổ biến trong các đoàn tàu từ Angier đến Manila. Sau một hai tuần ở đó, [[Bệnh tả|dịch tả]] tấn công, bất chấp sự sạch sẽ của con tàu. Peacock mất bảy người; nhiều người tuy đã hồi phục đãnhưng lại chết vì các bệnh khác. Không có trường hợp dịch tả mới nào xảy ra sau khi nó tiến tới [[Ma Cao|Macau]] vào ngày 2 tháng 11 năm 1833. Trong vòng {{Convert|2|league}} của [[Nam Nha|đảo Lamma]] hoặc [[Quần đảo Vạn Sơn|Quần đảo Wanshan]], nó có thêm một hoa tiêu hàng hải sau khi giải quyết một khoản phí mười ba đô la và một chai rượu rum.{{sfn|Roberts|1837|p=65}}
 
=== Macao và thành phố Canton ===
[[Tập tin:USSCongress.png|phải|nhỏ| ''Tàu Congress'']]
Người Mỹ đến cảng [[Quảng Châu|Canton (Quảng Châu)]] được đối xử giống như những người nước ngoài khác, sẵn sàng thực hiện giao dịch thông qua các ''co-hong'', tức các nhà xưởng Trung Quốc được trao độc quyền của triều đình trong thương mại với nước ngoài. Thương mại là sinh lợi, nhưng thương nhân người nước ngoài bị xem là những người thấp kém về xã hội và chính trị, không có gì đảm bảo cho cuộc sống, tài sản hoặc quyền thương mại hoặc cư trú của họ. Trong khi điều này xếpTuy hạngnhiên [[người Anh]], [[người Mỹ]] và những người khác không muốn can thiệp, kẻo sẽ mang lại điều họ sợ nhất &#x2014; một lệnh [[Cấm vận|cấm vận thương mại]]. Tàu {{USS|Congress|1799|2}} dưới quyền thuyền trưởng John D. Henley, tàu hải quân đầu tiên của Hoa Kỳ tới Trung Quốc, đến vào ngày 3 tháng 11 năm 1819 tại đảo Lintin ([[:en:Nei Lingding Island|Nei Lingding]]). Các [[Nhà Thanh|quan chức Trung Quốc]] báo động khi tàu chiến đến, chỉ thị thuyền trưởng của nó không được vào [[Châu Giang (sông Trung Quốc)|sông Châu Giang]]. Được lãnh sự Hoa Kỳ khuyên rằng sẽ không có hành động bất lợi nào, Thuyền trưởng Henley mạnh dạn tiến vào. Vào tháng 1 năm 1830, tàu {{USS|Vincennes|1826|2}} dưới quyền chỉ huy của William B. Finch, người Mỹ sau đó có chuyến đi vòng quanh toàntrái cầuđầu đầu tiên, vẫn còn hơn hai tuần tại Canton, nơi các thương nhân Mỹ khuyên ông rằng chuyến thăm hải quân hàng năm sẽ có giá trị &#x2013; nếu chỉ huy của họ sẽ có giá trị cho thấy "sự bảo vệ tương tự đốitôn vớitrọng phong tục của Trung Quốc, và tự bố trí hòa giải như được trưng bày bởi chính bạn", mà Finch báo cáo hợp lệ cho bộ Hải quân. Không có dấu hiệu nào cho thấy báo cáo của Finch đã được chuyển đến NhàChính nướcphủ, hoặc Roberts đã nhìn thấy nó, mặc dù điều kiện thực tế giống nhau ở tất cả các vương quốc nhánh "[[Vùng văn hóa Đông Á|Sinicized]]" gần đó, tức là tự mình thực hiện một cách kín đáo, không bảo đảm theo cách này hay cách khác.<ref name="Long">{{Chú thích sách|url=https://archive.org/details/goldbraidforeign00long|title=Gold braid and foreign relations: diplomatic activities of U.S. naval officers, 1798-1883|last=Long|first=David Foster|date=1988|publisher=Naval Institute Press|isbn=978-0-87021-228-4|location=Annapolis|pages=207ff|chapter=Chapter Nine|lccn=87034879|chapter-url=https://books.google.com/books?id=yv2sdjw4SIYC&pg=PA209&lpg=PA209&dq=Edmund+Roberts+royal%3B+navy&source=bl&ots=xMsi68ZBY7&sig=_-#v=onepage&q=Edmund%20Roberts%20royal%3B%20navy&f=false|url-access=registration|lay-url=https://www.jstor.org/stable/2163133|lay-date=February 1990}}</ref>
 
Vào những tháng cuối năm 1832, Roberts đã đến thăm [[Macao]][[Quảng Châu]], nơi ông lưu ý: "''Các thương nhân Trung Quốc có tiếng là những người buôn bán sắc sảo: họ ít niềm tingiấu vàogiếm nhau; mọi hợp đồng quan trọng phải được 'cố định' và được đảm bảo bằng cách thanh toán một khoản tiền theo quy định: nhưng họ đặt niềmmật tintuyệt đối hạn nhất vào sự chính trực củavới khách hàng nước ngoài ''"(p. &nbsp; 128) Ông thuê John Robert Morrison với tư cách là phiên dịch [[tiếng Trung Quốc]] và thư ký riêng, người sẽ trở về [[Singapore]].{{sfn|Roberts|1837|p=72–171}}
 
=== Cochin-China ===
{{see also|Minh Mạng#Với phương Tây|Quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam#Trước thế kỷ XX}}
 
[[Tập tin:1820 1829 Siam and Cochin China John Crawfurd journal of an embassy o.jpg|nhỏ|Bản đồ [[Xiêm]] và Cochin China ([[Việt Nam]]) (năm [[1820]]-[[1829]]) dotrong sách của [[John Crawfurd]] vẽnăm 1828.]]
Sáu tuần sau khi đến Linting ([[Quảng Châu]]), và sau khi chịu đựng nhiều ngày mưa và có gió thổi từng cơn, tàu ''Peacock'' chạy tới vịnh Turan ([[Đà Nẵng]]) vốn là điểm gần và tốt nhất để giao tiếp với kinh thành [[Huế]], cách khoảng năm mươi dặm. Nhưng tàu đã không thể thả neo ngoài khơi của Huế do [[gió mùa Đông Á]].<ref name=":0">The Project Gutenberg EBook of [http://www.gutenberg.org/files/44075/44075-h/44075-h.htm Embassy to the Eastern Courts of Cochin-China, Siam, and Muscat], by Edmund Roberts</ref> Ra khỏi vịnh Turan vào ngày 1 tháng 1 năm [[1833]]: nhưng thời tiết rất xấu, cùng với dòng chảy mạnh của biển, những cơn gió cứ liên tục đổi hướng, cứ nữa giờ, từ tây bắc tới đông bắc.