Khác biệt giữa các bản “Niết-bàn”

(Dùng từ "Tiểu thừa" (Hinayana) là một từ xúc phạm, lăng mạ mà các tông phái Phật giáo tự xưng Đại thừa (Mahayana) dùng để sỉ nhục và hạ lòng tin tín đồ đối với các tông phái Phật giáo khác (trong đó có cả các phái Phật giáo gần nhất với giáo lý của Thích Ca). Vào năm 1950, Hội Phật Tử Thế Giới (World Fellowship of Buddhists) đã chấn chỉnh lại cách gọi này.)
 
==== Thiền tông ====
Trong [[Thiền tông]], Niết-bàn cũng không hề tách rời với thế giới này mà chính là sự trực ngộ được thể tính của [[Tâm]], là thể tính của con người, thể tính của [[Phật]]. Thực hiện Niết-bàn phải thông qua trí huệtuệ và vì vậy, có khi Niết-bàn được xem là đồng nghĩa với [[trí huệ bát-nhã|trí tuệ bát-nhã]]. Niết-bàn và trí huệtuệ chỉ là hai mặt của một cái duy nhất. Niết-bàn là trạng thái của một người đã đạt trí huệtuệ bát-nhã, đã đạt tri kiến về Tâm và ngược lại Bát-nhã là trí huệtuệ của một người đã chứng đắc Niết-bàn.
== Quan điểm Ấn Độ giáo ==
Theo [[Ấn Độ giáo]], Niết-bàn là sự thật tuyệt đối. Theo S.K. Belvalkar thì khái niệm Niết-bàn này xuất hiện trước khi Phật giáo được thành lập. Theo trường sử thi ''[[Mahābhārata]]'' thì Niết-bàn được xem là sự tịch tĩnh (sa. ''śānti'') và sự thỏa mãn (sa. ''susukkti''). Trong tác phẩm ''Anugītā'', Niết-bàn được xem như "một ngọn lửa không có chất đốt". ''[[Bhagavad Gita|Chí Tôn ca]]'' như chủ ý nhấn mạnh tính đối nghịch với khái niệm Niết-bàn trong Phật giáo vì bài này miêu tả Niết-bàn như sự chứng đắc [[Phạm thiên]] (sa. ''brahman'', 2,71). [[Du-già sư]] (sa. ''yogin'') ở đây không được xem như một ngọn đèn đã tắt (như trong Phật giáo), mà là một ngọn đèn không đứng giữa cơn gió, không bị lay chuyển (6,19). Chứng đạt Niết-bàn được gọi là [[giải thoát]] (sa. ''mokṣa'').
171

lần sửa đổi