Khác biệt giữa các bản “Tiếng Bắc Triều Tiên chuẩn”

n
không có tóm lược sửa đổi
(→‎Liên kết ngoài: AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:03.0711100 using AWB)
n
{{Hộp thông tin tên Đông Á|koreanname=Tên Triều Tiên|hangul=문화어|hanja=文化語|context=north|rr=Munhwaeo|mr=Munhwaŏ|koreanname2=Tên Hàn Quốc|hangul2=북한어|hanja2=北韓語|rr2=Bukhaneo|mr2=Puk'anŏ}}'''Tiếng Bắc Triều Tiên chuẩn''' hoặc '''Munhwaŏ''' ({{Ko-hhrm|hangul=문화어|hanja={{lang|ko|文化語}}|hanviet=Văn hoá ngữ}}) là [[phương ngữ]] [[tiếng Triều Tiên]] [[Ngôn ngữ tiêu chuẩn|chuẩn]] [[Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên|Bắc Triều Tiên]]. Văn hoá ngữ đã được thông qua như là tiêu chuẩn vào năm 1966. Tuyên bố thông qua nêu rõ rằng [[Phương ngữ Bình An|phương ngữ Bình An (Pyongan)]] được nói ở thủ đô [[Bình Nhưỡng]] của Bắc Triều Tiên và khu vực xung quanh là cơ sở cho Văn hoá ngữ; tuy nhiên, trên thực tế, [[Iksop Lee]] và [[S. Robert Ramsey]] ghi nhận rằng Văn hoá ngữ vẫn "bám rễ" vào [[phương ngữ Seoul]] vốn là tiêu chuẩn quốc gia trong nhiều thế kỷ. Do đó, hầu hết [[Sự khác biệt của hai miền Nam - Bắc trong tiếng Triều Tiên|sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn của Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc]] là do thay thế [[Từ Hán-Triều|từ vựng Hán-Triều]] và các [[từ mượn]] khác bằng các từ tiếng Triều Tiên thuần túy, hoặc tham khảo ý thức hệ miền Bắc cho "tiếng nói của giai cấp công nhân" bao gồm một số từ được coi là phi chuẩn tại [[Nam Hàn]].<ref name="LeeRamsey2000">{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=NN-yIdLOkCoC&pg=PA309|title=The Korean Language|last=Iksop Lee|last2=S. Robert Ramsey|publisher=SUNY Press|year=2000|isbn=978-0-7914-4831-1|page=309}}</ref>
 
== Lịch sử ==
Sau khi giải phóng [[Hàn Quốc]] vào năm 1945, cả hai miền [[bán đảo Triều Tiên]] tiếp tục tuân theo các hướng dẫn ngôn ngữ Triều Tiên theo định nghĩa của [[Hội ngôn ngữ Triều Tiên|Hiệp hội Hàn ngữ]] năm 1933 với "Đề xuất về Chữ viết Triều Tiên thống nhất" ({{Ko-hhrm||||hangul=한글 맞춤법 통일안|hanja=|mr=|rr=}}) và vào năm 1936 với "Bộ sưu tập các từ tiếng Triều tiêu chuẩn được đánh giá" ({{Ko-hhrm||||hangul=사정한 조선어 표준말 모음|hanja=|mr=|rr=}}). Năm 1954, đề xuất năm 1933 đã được thay thế bằng một hệ thống mới ({{Ko-hhrm|hangul=조선어 철자법|hanja=|rr=|mr=|context=north}}) của [[chính phủ Bắc Triều Tiên]], trong đó, mười ba từ đã được sửa đổi một chút. Mặc dù cải cách tạo ra rất ít sự khác biệt, nhưng từ thời điểm này, các ngôn ngữ được người dân ở cả hai phía trên bán đảo Triều Tiên sử dụng chỉ phát triển trong khác biệt.
 
Trong khi xuất hiện [[tư tưởng Chủ thể]] vào những năm 1960, [[Kim Nhật Thành|Kim Nhật Thành (Kim Il-sung)]] phối hợp một nỗ lực để thanh lọc các từ mượn, kí tự [[tiếng Anh]], [[tiếng Nhật]] và [[tiếng Nga]] cũng như các từ có các ký tự [[Hanja]] ít phổ biến hơn khỏi tiếng Triều Tiên, thay thế chúng bằng các từ mới có nguồn gốc từ tiếng Triều Tiên bản địa.
 
Do đó, [[Bắc Triều Tiên]] bắt đầu gọi phương ngữ riêng của mình là "ngôn ngữ văn hóa" ({{Ko-hhrm|hangul=문화어|hanja=|rr=|mr=|context=north}}) như sự hướng về cội nguồn của nó với các từ có gốc rễ văn hóa Triều Tiên nhằm tạo ra sự khác biệt với [[Phương ngữ Seoul|phương ngữ tại [[Seoul]] được coi là "ngôn ngữ tiêu chuẩn" ({{Ko-hhrm|hangul=표준어|hanja=|rr=|mr=}}).
 
== Đặc điểm ==
Văn hóa ngữ được cho là dựa trên [[phương ngữ Bình Nhưỡng]] nhưng thật khó để thấy điều đó trên thực tế như hiện tại. Ngôn ngữ tiêu chuẩncIhuẩn dựa trên phương ngữ Seoul đã được sửa đổi theo cách do [[Hiệp hội Ngôn ngữ học Chosun]] đặt ra hoặc sửa đổi bằng cách sử dụng chút ít yếu tố phương ngữ Bình Nhưỡng, tạo ra thứ được gọi là Văn hóa ngữ. Các phương ngữ Bình Nhưỡng và Seoul ban đầu khá giống nhau, nhưng trọng âm đã thay đổi rất nhiều kể từ khi phân chia Bắc và Nam.
 
Ngôn ngữ văn hóa không phản ánh các đặc điểm âm vị học điển hình của phương ngữ Bình Nhưỡng, nhưng về nguyên tắc phản ánh tính đặc thù âm vị học giống như ngôn ngữ tiêu chuẩn do [[Hiệp hội Ngôn ngữ Hàn Quốc]] đặt ra.
 
Về mặt ngữ pháp, các đặc điểm của phương ngữ Bình Nhưỡng gần như không có trong Văn hóa ngữ.