Khác biệt giữa các bản “Tôn hoàng hậu (Minh Tuyên Tông)”

không có tóm lược sửa đổi
n
| cha = [[Tôn Trung]]
| mẹ =
| sinh = [[13 tháng 3]], [[1399]]?
| nơi sinh = [[Sơn Đông]]
| mất = [[26 tháng 9]], [[1462]]
| nơi mất = [[Tử Cấm Thành]], [[Bắc Kinh]]
| nơi an táng = [[Minh Cảnh lăng|Cảnh lăng]] (景陵)
}}
'''Hiếu Cung Chương Hoàng hậu''' ([[chữ Hán]]: 孝恭章皇后; [[13 tháng 3]], [[1399]]? - [[26 tháng 9]], [[1462]]), còn gọi là '''Thượng Thánh Hoàng thái hậu''' <br>(上聖皇太后) hay, '''Thánh Liệt Hoàng thái hậu''' (聖烈慈壽皇太后) hoặc '''Tôn Quý phi''' (孫貴妃), là [[Hoàng hậu]] thứ hai của [[Minh Tuyên Tông]] Chu Chiêm Cơ và là sinh mẫu của [[Minh Anh Tông]] Chu Kỳ Trấn.
 
== Tiểu sử ==
Hiếu Cung Chương hoàng hậu mang [[họ Tôn]] (孫氏), sinh ngày [[6 tháng 2]] (âm lịch) vào năm đầu Kiến Văn, người [[Trân Bình]], [[Sơn Đông]]. Cha bà là Vĩnh Thành huyện chủ bộ [[Tôn Trung]] (孙忠), sau tặng tước ''Hội Xương bá'' (會昌伯), rồi [[Thái bảo]], lại cải tước ''An Quốc công'' (安國公). Tôn thị từ nhỏ được tả dung mạo mĩ lệ, thông hiểu lễ giáo. Bành Thành bá phu nhân, mẹ của [[Trương hoàng hậu (Minh Nhân Tông)|Thành Hiếu Trương hoàng hậu]] là người cùng quê Trâu Bình, hay ra vào cung cấm, tiến cử Tôn thị cho con trưởng là Hoàng thái tôn Chu Chiêm Cơ. [[Minh Thành Tổ]] Chu Đệ cho phép Trương Hoàng hậu nuôi dưỡng Tôn thị trong cung<ref>《明史·列傳第一·后妃》: 宣宗孝恭皇后孫氏,鄒平人。幼有美色。父忠,永城縣主簿也。誠孝皇后母彭城伯夫人,故永城人,時時入禁中,言忠有賢女,遂得入宮。</ref>.
 
Năm Vĩnh Lạc thứ 15 ([[1417]]), Thành Tổ Vĩnh Lạc Đế chủ hôn cho Hoàng thái tôn, quyết định lập chánh thất là [[Hồ Thiện Tường]], còn Tôn thị chỉ có vị trí [[Tần (hậu cung)|Tần]]<ref>《明史·列傳第一·后妃》:方十餘歲,成祖命誠孝後育之。已而宣宗婚,詔選濟寧胡氏為妃,而以孫氏為嬪</ref>. Không lâu sau khi làm Hoàng thái tôn Tần, Tôn Quý phi sinh hạ [[Thường Đức công chúa]].
Tôn thị từ nhỏ được tả dung mạo mĩ lệ, thông hiểu lễ giáo. Bành Thành bá phu nhân, mẹ của [[Trương hoàng hậu (Minh Nhân Tông)|Thành Hiếu Trương hoàng hậu]] là người cùng quê Trâu Bình, hay ra vào cung cấm, tiến cử Tôn thị cho con trưởng Chu Chiêm Cơ. [[Minh Thành Tổ]] Chu Đệ cho phép Trương hoàng hậu nuôi dưỡng Tôn thị trong cung. Bấy giờ, bà cùng Hoàng thái tôn Chu Chiêm Cơ tình cảm rất thâm hậu.
 
== Phong Phi lập Hậu ==
Năm Vĩnh Lạc thứ 15 ([[1417]]), Thành Tổ Vĩnh Lạc Đế chủ hôn cho Hoàng thái tôn, quyết định lập chánh thất là [[Hồ Thiện Tường]], còn Tôn thị chỉ có vị trí Trắc thất. Năm đầu Tuyên Đức ([[1425]]), Hoàng thái tôn kế vị, tức [[Minh Tuyên Tông]] Tuyên Đức Đế, Tôn thị được phong làm [[Quý phi]], còn Hồ thị tiếp nhận ngôi vị [[Hoàng hậu]].
 
Minh Tuyên Tông tình cảm thâm hậu với Tôn Quý phi, vượt xa Hồ Hoàng hậu. Bấy giờ, sách phong hậu cung chỉ duy có Hoàng hậu là được ['''Kim bảo'''; 金宝], nhưng Tuyên Tông yêu quý Tôn Quý phi đã đặc biệt cấp riêng cho bà vật này, từ đó thành tiền lệ cho hậu cung đắc sủng Quý phi về sau. Không lâu sau, Tôn Quý phi sinh hạ [[Thường Đức công chúa]] (常德公主). Năm Tuyên Đức thứ 2 ([[1427]]), Tôn Quý phi sinh hạ Hoàng tử Chu Kì Trấn, Tuyên Tông vui mừng lắm, càng yêu quý Tôn Quý phi hơn nữa. Có thuyết Tôn Quý phi giả mang thai, do cung nữ Kỷ thị được lâm hạnh mà sinh ra, sau khi sinh hạ Hoàng tử Chu Kỳ Trấn thì cung nữ đó bị giết. Nhưng xét ra đó chỉ là tin đồn để hủy hoại thanh danh của Tôn Quý phi và Hoàng tử Chu Kì Trấn.
 
Bấy giờ, Hồ Hoàng hậu bấy giờ chỉ sinh toàn Côngcông chúa khiến Tuyên Tông lạnh nhạt, và cuối cùng Tuyên Tông ép buộc Hồ Hoàng hậu phải nhường vị cho Tôn Quý phi. Bấy giờ, Tuyên Tông triệu quần thần nghị sự, nói: [''"Trẫm đã 30 tuổi mà chưa có đích, may có Tôn Quý phi sinh hạ Hoàng trưởng tử Chu Kỳ Trấn, mẫu từ tử quý, lại phần an ủi. Nhưng Hoàng hậu sẽ phải xử trí thế nào?"'']. Thế là, Tuyên Tông liệt kê ra nhiều điểm xấu của Hồ hoàng hậu. Tôn Quý phi nghe thế cả mừng, nhưng vẫn làm bộ từ chối nói: [''"Hậu lành bệnh thì tất sẽ sinh ra Hoàng đích tử. Con của tiện thiếp nào có thể sánh với Đích tử?"'']<ref>《明史·列传第一·后妃》:妃亦无子,阴取宫人子为己子,即英宗也,由是眷宠益重。胡后上表逊位,请早定国本。妃伪辞曰:“后病痊自有子,吾子敢先后子耶?”</ref>. Sử gia [[Thái Đông Phiên]] nhận định: [''"Tôn Quý phi thân thể quyến rũ, tính tình giảo hoạt...Mọi cách lấy lòng thượng ý, Tuyên Tông hoàng đế cứ thế bị thị đùa bỡn trong tay"'']<ref>蔡东藩:孙贵妃体态妖娆,性情狡黠,少成若天性。百般取悦上意,几把这位宣宗皇帝,玩弄在股掌中。</ref>.
 
Năm Tuyên Đức thứ 3 ([[1428]]), [[mùa xuân]], Tuyên Tông hoàng đế phế Hồ Hoàng hậu. Ngày [[1 tháng 3]] (âm lịch) năm đó, Tuyên Tông lập Tôn Quý phi kế vị làm [[Hoàng hậu]]. Hoàng tử Chu Kỳ Trấn được lập làm [[Hoàng thái tử]]. Thấy Hồ Thiện Tường bị phế đáng thương, lại tính Hồ thị khiêm nhường hiền huệ, mẹ của Tuyên Tông là Trương Thái hậu thường xuyên triệu Hồ thị vào [[Thanh Ninh cung]] hầu hạ. Khi đãi yến tiệc, Hồ thị cũng được ban quyền xếp cao hôn Tôn hoàng hậu, do vậy Tôn hoàng hậu luôn cảm thấy bị bẽ mặt<ref>《明史·列传第一·后妃》:三年三月,胡后废,遂册为皇后。英宗立,尊为皇太后。</ref>.
 
== Hoàng thái hậu ==
Năm Tuyên Đức thứ 10 ([[1435]]), Minh Tuyên Tông băng hà, [[Thành Hiếu Chiêu hoàng hậu|Trương Thái hậu]] lập Hoàng thái tử Chu Kì Trấn kế vị, tức [[Minh Anh Tông]]. Trương Thái hậu được tôn làm [[Thái hoàng thái hậu]], Tôn Hoàng hậu được tôn làm [[Hoàng thái hậu]]. Vào lúc này, Trương Thái hoàng thái hậu chủ trì việc giáo dục Anh Tông, hành trạng của Tôn Thái hậu không được ghi lại nhiều. Năm Chính Thống thứ 14 ([[1449]]), Minh Anh Tông thân chinh [[Ngõa Lạt]], Tôn Thái hậu lấy quyền Hoàng thái hậu, mệnh Thành vương [[Minh Đại Tông|Chu Kỳ Ngọc]] giám quốc. Khi đó, Anh Tông bị bắt trong [[Sự biến Thổ mộc bảo]], chấn động triều đình. Tôn Thái hậu cùng Hoàng hậu của Anh Tông là [[Tiền hoàng hậu (Minh Anh Tông)|Tiền thị]] tự thân lấy châu báu, chuộc Anh Tông<ref>《剑桥中国明代史·北京的防御和新帝的即位》 .国学导航</ref>. Ngày [[18 tháng 8]] (âm lịch), Tôn Thái hậu mệnh Thành vương giám quốc.
 
[[Tháng 9]] năm đó, do không thể bỏ trống ngôi vị, đại thần đã vào cung khuyên Tôn Thái hậu chủ trì, lập Thành vương Chu Kỳ Ngọc được kế vị, tức [[Minh Đại Tông]]. Nhưng con trai của Anh Tông là Chu Kiến Thâm vẫn trở thành Hoàng thái tử, để đảm bảo ổn định dòng dõi. Ngày [[4 tháng 12]], Tôn Thái hậu được tôn hiệu thành '''Thượng Thánh hoàngHoàng thái hậu''' (上聖皇太后), còn mẹ của Đại Tông là Ngô thị trở thành Hoàng thái hậu mà không có tôn hiệu, để phân đích thứ. Đây là lần đầu tiên lịch sử nhà Minh tồn tại cả hai vị Hoàng thái hậu. Khi Anh Tông trở về, bị tôn làm [[Thái thượng hoàng]], giam ở Nam Cung, Tôn Thái hậu nhiều lần thăm hỏi<ref>《明史·列传第一·后妃》:英宗北狩,太后命郕王监国。景帝即位,尊为上圣皇太后。时英宗在迤北,数寄御寒衣裘。及还,幽南宫,太后数入省视。</ref>. Khi này Đại Tông cảm thấy sự nguy hiểm cho Hoàng vị, phế truất Chu Kiến Thâm mà lập con mình là [[Chu Kiến Tế]] làm Đông cung Hoàng thái tử thay thế.
Năm Chính Thống thứ 14 ([[1449]]), Anh Tông thân chinh [[Ngõa Lạt]], Tôn Thái hậu lấy quyền Hoàng thái hậu, mệnh Thành vương [[Minh Đại Tông|Chu Kỳ Ngọc]] giám quốc. Khi đó, Anh Tông bị bắt trong [[Sự biến Thổ mộc bảo]], chấn động triều đình. Tôn Thái hậu cùng Hoàng hậu của Anh Tông là [[Tiền hoàng hậu (Minh Anh Tông)|Tiền thị]] tự thân lấy châu báu, chuộc Anh Tông<ref>《剑桥中国明代史·北京的防御和新帝的即位》 .国学导航</ref>. Ngày [[18 tháng 8]], Tôn Thái hậu mệnh Thành vương giám quốc.
 
[[Tháng 9]] năm đó, do không thể bỏ trống ngôi vị, đại thần đã vào cung khuyên Tôn Thái hậu chủ trì, lập Thành vương Chu Kỳ Ngọc được kế vị, tức [[Minh Đại Tông]]. Nhưng con trai của Anh Tông là Chu Kiến Thâm vẫn trở thành Hoàng thái tử, để đảm bảo ổn định dòng dõi. Ngày [[4 tháng 12]], Tôn Thái hậu được tôn hiệu thành '''Thượng Thánh hoàng thái hậu''' (上聖皇太后), còn mẹ của Đại Tông là Ngô thị trở thành Hoàng thái hậu mà không có tôn hiệu, để phân đích thứ. Đây là lần đầu tiên lịch sử nhà Minh tồn tại cả hai vị Hoàng thái hậu. Khi Anh Tông trở về, bị tôn làm [[Thái thượng hoàng]], giam ở Nam Cung, Tôn Thái hậu nhiều lần thăm hỏi<ref>《明史·列传第一·后妃》:英宗北狩,太后命郕王监国。景帝即位,尊为上圣皇太后。时英宗在迤北,数寄御寒衣裘。及还,幽南宫,太后数入省视。</ref>. Khi này Đại Tông cảm thấy sự nguy hiểm cho Hoàng vị, phế truất Chu Kiến Thâm mà lập con mình là [[Chu Kiến Tế]] làm Đông cung Hoàng thái tử thay thế.
 
Năm Cảnh Thái thứ 8 ([[1457]]), Anh Tông phục tịch, phế truất Đại Tông. Tôn Thái hậu được cải tôn hiệu thành '''Thánh Liệt Từ Thọ hoàng thái hậu''' (聖烈慈壽皇太后), từ đó thành lệ dâng [[tôn hiệu]] cho [[Hoàng thái hậu]] trong Hậu cung nhà Minh.
 
Năm Thiên Thuận thứ 6 ([[1462]]), ngày [[4 tháng 9]] (âm lịch), Tôn Thái hậu qua đời, thọ 63 tuổi<ref>《弇山堂别集》卷三十一:章皇后姓孙氏太保安国公忠之女宣德元年五月初九日册封为贵妃三年三月初一日册立为皇后十年英宗即位二月初九日上尊号曰皇太后正统十四年景皇帝即位十二月初四日加上尊号曰上圣皇太后天顺二年正月十二日加上尊号曰圣烈慈寿皇太后六年九月初四日崩合葬景陵十月初七日上尊谥曰孝恭懿宪慈仁庄烈齐天配圣章皇后(英宗生母祔庙)。</ref>. [[Thụy hiệu]] của bà là '''Hiếu Cung Ý Hiến Từ Nhân Trang Liệt Tề Thiên Phối Thánh Chương hoàng hậu''' (孝恭懿憲慈仁庄烈齊天配聖章皇后), hợp táng cùng [[Minh Tuyên Tông]] ở [[Cảnh lăng]].
 
== Tham khảo ==