Khác biệt giữa các bản “Eminem”

Thêm liên kết
(Thêm liên kết)
Thẻ: Soạn thảo trực quan Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
| name = Eminem
| image = Eminem - Concert for Valor in Washington, D.C. Nov. 11, 2014 (2) (Cropped).jpg <!--- Đừng thay thế ảnh này bằng những hình ảnh có bản quyền. Chúng sẽ bị gỡ bỏ ngay lập tức từ bài viết và bị xóa khỏi Wikimedia Commons. --->
| image_size = 240px
| caption = Eminem biểu diễn trongtại The Concert for Valor, [[Washington D.C.]], ngày [[11 tháng 1]] năm [[2014]].
| birth_name = Marshall Bruce Mathers III
| birth_date = {{birth date and age|1972|10|17}}
| birth_place = [[Saint Joseph, Missouri|St. Joseph, Misouri]], [[Mỹ]]
| occupation = {{flatlist|
* [[Rapper]]
* [[nhà sản xuất thu âm]]
* [[người viết bài hát]]
* [[diễn viên]]
}}
| years_active = 1988–nay
| residence = [[Rochester Hills, Michigan]], [[Mỹ]]
| spouse = {{marriage|Kimberly Scott<br />|1999|2001|end=div}}<br />{{marriage||2006|2006|end=div}}<!-- Thông tin phải chính xác để thể hiện rõ hai cuộc hôn nhân tách biệt của cùng một người. -->
| children = 3
| module = {{Infobox musical artist|embed=yes
| instrument = {{flatlist|
* Hát
* Organ
* bàn phím
* trốngTrống
* samplerSampler
}}
| origin = [[Detroit]], [[Michigan]], [[Mỹ]]
| genre = [[Hip hop]]
| label = {{flatlist|
* M&M
}}
| chữ ký = File:Eminem's signature.svg
| website =
| giải thưởng =
| mẹ =
| cha =
| đảng phái =
| chiều cao = 173 cm
| kế nhiệm =
| tiền nhiệm =
| nhiệm kỳ =
| tiêu đề =
| cân nặng =
| quốc tịch = {{flag|Mỹ}}
| quê quán =
| notable works =
| nổi tiếng =
| tổ chức =
| học vấn =
| học vị =
| dân tộc =
| quốc gia =
| an táng =
| nơi mất =
| ngày mất =
| tên gốc =
| cỡ chữ ký = 150px
}}
 
'''Marshall Bruce Mathers III''' (sinh ngày [[17 tháng 10]] năm [[1972]]),<ref name="allmusicbio">{{Chú thích web|họ 1=Ankeny|tên 1=Jason|author2=Torreano, Bradley|tiêu đề=Eminem – Biography|url={{Allmusic|class=artist|id=p347307|pure_url=yes}}|nhà xuất bản=Allmusic|năm=2006|ngày truy cập=January 30, 2008}}</ref> thường được biết đến với nghệ danh '''Eminem''' (thường được cách điệu là '''EMINƎM'''), là một nam [[rapper]], [[người viết bài hát]], [[nhà sản xuất thu âm]] và [[diễn viên]] [[người Mỹ]].
 
Eminem là một trong những nghệ sĩ bán đĩa đơn bán chạy nhất [[Hoa Kỳ]] trong [[thập niên 2000]]. ''[[Rolling Stone]]'' xếp anh ở vị trí 83 trong danh sách 100 Nghệ sĩ Xuất sắc nhất Mọi thời đại và gọi anh là Ông vua nhạc Hip hop. Eminem có 10 album quán quân trên [[Billboard 200|''Billboard'' 200]] và 5 đĩa đơn quán quân trên [[Billboard 100|''Billboard'' 100]].<ref>{{Chú thích web|họ 1=Caufield|tên 1=Keith|tiêu đề=Eminem Makes Chart History With Eighth Consecutive No. 1 Debut on Billboard 200|url=https://www.billboard.com/articles/columns/chart-beat/8078653/eminem-revival-makes-chart-history-with-eighth-consecutive-no-1-debut-on|website=Billboard}}</ref> Với 47,4 triệu bản album tại Hoa Kỳ và trên 220&nbsp;triệu đĩa trên bản thualbum trên toàn cầu, anh là một trong những [[Danh sách nghệ sĩ âm nhạc bán đĩa nhạc chạy nhất|nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất mọi thời đại]].
 
Sau album đầu tay ''[[Infinite (album của Eminem)|Infinite]]'' (1996) và ''[[Slim Shady EP]]'' (1997), Eminem kí hợp đồng với hãng đĩa [[Aftermath Entertainment]] của [[Dr. Dre]] và trở nên nổi tiếng vào năm 1999 với ''[[The Slim Shady LP]]'', album mang về cho anh [[giải Grammy cho Album Rap xuất sắc nhất]]. Hai phát hành sau đó ''[[The Marshall Mathers LP]]'' (2000) và ''[[The Eminem Show]]'' (2002), đều đạt được thành công trên toàn cầu khi đều được chứng nhận kim cương tại Hoa Kỳ cũng như đều giành giải Album Rap xuất sắc nhất (Eminem là nghệ sĩ đầu tiên có ba LP liên tiếp giành giải này). Sau đó là sự ra đời của ''[[Encore (album của Eminem)|Encore]]'' vào năm 2004, một thành công trên cả phương diện phê bình và thương mại. Eminem tiếp tục phát hành ''[[Relapse (album của Eminem)|Relapse]]'' vào năm 2009 và ''[[Recovery (album của Eminem)|Recovery]]'' vào năm 2010. Cả hai album đều đoạt giải Grammy còn riêng ''Recovery'' trở thành album bán chạy nhất thế giới năm 2010, lần thứ hai anh có album bán chạy nhất năm trên bình diện quốc tế (sau ''The Eminem Show''). Album thứ tám của Eminem vào năm 2013 mang tên ''[[The Marshall Mathers LP 2]]'' giành hai giải Grammy trong đó có Album Rap xuất sắc nhất; nâng số giải Grammy lên con số 15.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.foxnews.com/story/2009/09/17/eminem-biography.html|tiêu đề=Eminem's Biography|họ 1=|tên 1=|ngày tháng=September 17, 2009|website=|nhà xuất bản=|archive-url=https://web.archive.org/web/20171201101418/http://www.foxnews.com/story/2009/09/17/eminem-biography.html|archive-date=1 December 2017|dead-url=|access-date=}}</ref> Năm 2017, anh ra mắt album phòng thu thứ chín, ''[[Revival (album của Eminem)|Revival]]''.