Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Chu Túc”

n
Đã lùi lại sửa đổi của 103.7.38.93 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Khonghieugi123
(Chỉnh Sửa Thêm)
Thẻ: Soạn thảo trực quan Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
n (Đã lùi lại sửa đổi của 103.7.38.93 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Khonghieugi123)
Thẻ: Lùi tất cả
{{Thông tin nhân vật hoàng gia|tên=Chu vương Chu Túc|tước vị=|hình=|ghi chú hình=|chức vị=|tại vị=|tiền nhiệm=|kế nhiệm=|con cái=''xem văn bản''|tên đầy đủ=Chu Túc|thụy hiệu='''Chu Định vương''' <br> (周定王)|sinh=8 tháng 10, 1361|mất=2 tháng 9, 1425|cha=[[Minh Thái Tổ]]|mẹ=[[Mã hoàng hậu (Minh Thái Tổ)|Hiếu Từ Cao Hoàng hậu]]}}
{{Thông tin nhân vật hoàng gia
'''Chu Túc''' (朱橚; 18 tháng 1210, 13591361 - 2 tháng 9, 1425), còn gọi là ''ChâuChu Định vương'' (周定王), là hoàng tử thứ năm của '''Minh Thái Tổ''' [[Chu Nguyên Chương]], người sáng lập ra [[Nhà Minh|triều Minh]]. Mẹ là [[Mã hoàng hậu (Minh Thái Tổ)|Hiếu Từ Cao Hoàng hậu]] Mã thị.
| tên = Châu vương Chu Túc
| tên gốc =
| tước vị =
| tước vị thêm =
| hình =
| ghi chú hình =
| chức vị =
| tại vị =
| đăng quang =
| tiền nhiệm =
| nhiếp chính =
| kế nhiệm =
| phối ngẫu =
| con cái = ''xem văn bản''
| tên đầy đủ = Chu Túc
| tên tự =
| tên hiệu =
| tôn hiệu =
| miếu hiệu =
| thụy hiệu = '''Châu Định vương''' <br> (周定王)
| niên hiệu =
| thời gian của niên hiệu =
| niên hiệu 2 =
| thời gian của niên hiệu 2 =
| niên hiệu 3 =
| thời gian của niên hiệu 3 =
| niên hiệu 4 =
| thời gian của niên hiệu 4 =
| niên hiệu 5 =
| thời gian của niên hiệu 5 =
| niên hiệu 6 =
| sinh = 1 tháng 12, 1359
| nơi sinh =
| mất = 2 tháng 9, 1425
| nơi mất =
| ngày an táng =
| nơi an táng =
| học vấn =
| nghề nghiệp =
| tôn giáo =
| chữ ký =
| thời gian của niên hiệu 6 =
| tước hiệu =
| hoàng tộc =
| cha = [[Minh Thái Tổ]]
| mẹ = [[Mã hoàng hậu (Minh Thái Tổ)|Hiếu Từ Cao Hoàng hậu]]
}}
'''Chu Túc''' (朱橚; 1 tháng 12, 1359 - 2 tháng 9, 1425), còn gọi là ''Châu Định vương'' (周定王), là hoàng tử thứ năm của '''Minh Thái Tổ''' [[Chu Nguyên Chương]], người sáng lập ra [[Nhà Minh|triều Minh]]. Mẹ là [[Mã hoàng hậu (Minh Thái Tổ)|Hiếu Từ Cao Hoàng hậu]] Mã thị.
 
== Cuộc đời ==
Sau khi thống nhất Trung Hoa, [[Minh Thái Tổ|Chu Nguyên Chương]] lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu Thái Tổ, lập ra [[nhà Minh]]. Tháng 5 năm 1370, Thái Tổ phong cho ông làm ''Ngô vương'' (吴王). Năm 1374, Ngô vương được ban cho đất [[Hàng Châu]], [[Chiết Giang]] lập thái ấp. Cùng năm đó, [[Thành Mục Quý phi]] Tôn thị của [[Minh Thái Tổ]] qua đời. Theo chỉ dụ của phụ hoàng, Chu Túc trở thành con của bà, phục tang 3 năm.
 
Chu Túc và người anh thứ tư của ông, Yên vương [[Minh Thành Tổ|Chu Đệ]] có quan hệ rất tốt, tình cảm sâu đậm. Năm 1376, Chu Túc được chuyển đến vùng [[Phượng Dương|Phụng Dương]], nơi mà hoàng tử dành nhiều thời gian để huấn luyện quân đội. Năm 1378, phụ hoàng Thái Tổ cải phong cho ông làm ''ChâuChu vương'' (周王), gả con gái của ''Tống quốc công'' [[Phùng Thăng]] (宋国公.冯胜) cho hoàng tử. Năm 1381, chuyển ông đến phủ [[Khai Phong]], [[Hà Nam (Trung Quốc)|Hà Nam]], ban cho 3 đạo quân cùng một số quan cố vấn.
 
Năm 1389, Chu Túc rời Khai Phong đến PhụngPhượng Dương mà không có chỉ dụ của Minh Thái Tổ. Sau đó, ông bị đày đi [[Vân Nam]], nhưng thực tế lại bị giam giữ trong kinh thành ở [[Nam Kinh]]; trưởng tử của ông, Chu Hữu Đôn (朱有炖) tạm thời kiểm soát phủ Khai Phong, năm 1391 chính thức nắm quyền. Chu Túc sau đó được phép trở về Khai Phong vào khoảng năm 1391 - 1392.
 
[[Minh Thái Tổ]] qua đời vào năm 1398, cháu nội của ông lên ngôi, tức [[Minh Huệ Đế]]. Tân đế sau khi lên ngôi đã tiến hành bãi bỏ các thế lực phiên vương của các ông chú. Chu Túc là nạn nhân đầu tiên bị triệu về kinh để phế tước của ông. Năm 1398, con trai thứ hai của ông là Chu Hữu Huân (朱有爋) bị buộc tội phản nghịch, Chu Túc vì thế mà bị vạ lây. Ông bị tước hết chức vị và đày đi lại [[Vân Nam]]. Sau [[chiến dịch Tĩnh Nan]], hoàng tử thứ tư của Thái Tổ, Chu Đệ cướp ngôi vua, lật đổ cháu mình, lấy hiệu [[Minh Thành Tổ]], Chu Túc được trả tự do và trở lại [[Nam Kinh]] (1402) rài sau đó quay về thái ấp của ông (1403).
 
Năm 1420, ChâuChu vương bị triệu về kinh vì tội chuẩn bị dấy binh làm loạn, ông thú nhận tội lỗi của mình và được tha bổng, nhưng số quân của Chu Túc bị cắt bớt tới mức tối thiểu.
 
Năm 1425, Chu vương Chu Túc qua đời, thuỵ đầy đủ là ''ChâuChu Định vương'' (周定王), toàn bộ thứ thiếp của ông đều bị ép tuẫn táng.
 
== Tài năng ==
ChâuChu vương Chu Túc đã cống hiến rất nhiều vào việc nghiên cứu thực vật và y học. Năm 1406, ông viết nên ''Cứu hoang bản thảo'' (救荒本草), ghi chép về các loại bách thảo, trong đó liệt kê về 414 loại cây dại ăn được. Vùng Khai Phong là nơi tập trung thiên tai của Trung Hoa, vì thế mục đích của cuốn sách là giúp tìm ra những loại cây dại ăn được để phòng trường hợp đói kém, mất mùa, thiên tai. Ngoài ra, ChâuChu vương còn biên soạn ''Phổ tế phương'' (普濟方), gồm 61.739 bài thuốc, là bộ sách y học cổ truyền lớn nhất Trung Hoa. Ông không chỉ là một thi sĩ tài hoa, mà còn là người am hiểu thư pháp, ông từng viết tác phẩm ''Nguyên cung từ'' (元宮詞), gồm 100 chương.
 
== Gia thất ==