Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Dục Đức”

n (Đã lùi lại sửa đổi của 171.237.145.98 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của 逐风天地)
Thẻ: Lùi tất cả
 
==Kết cục Phế đế==
[[Nguyễn Văn Tường]] muốn lập Ưng Đăng lên làm vua, nhưng [[Tôn Thất Thuyết]] nắm quân đội trong tay, lập em của [[Tự Đức]] là Lãng quốc công Hồng Dật lên ngôi, với niên hiệu là [[Hiệp Hòa]], lúc này [[Nguyễn Văn Tường]] và [[Tôn Thất Thuyết]] bàn nhau việc trừ khử Tự quân (tức Dục Đức, lúc đó đang bị giam ở viện Thái y), mới dời ông qua nhà ngục phủ Thừa Thiên và cho canh giữ cẩn mật, lại bắt các con của ông về quản thúc ở quê mẹ: hai hoàng tử thứ 7 (tức vua [[Thành Thái]] sau này) và thứ 9 theo mẹ là bà Vương phi [[Phan Thị Điều]] về xã Phú Lương, Hoàng tử thứ 10 theo mẹ là bà Nguyễn thị về xã Phú Xuân, còn Hoàng tử thứ 11 vẫn đang trong bụng mẹ. Các con của ông nguyên trong tên có bộ Sơn(Sơn (山) đều phải đổi theo bộ Thạch(Thạch (石). Hai người mật báo với quan cai ngục không cho Tự quân ăn uống gì nữa.
 
Giờ Thìn (7-9h) ngày [[6 tháng 10]] năm [[1883]]<ref>Theo [[Phạm Văn Sơn]] (sách đã dẫn, tr. 386) và Phan Thuận An (sách đã dẫn, tr. 115), có nguồn cho là ngày [[24 tháng 10]] năm [[1884]] thời vua [[Hàm Nghi]], như website ''Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế'' [http://www.hueworldheritage.org.vn/?catid=109&id=216], và ở đây [http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1420&Chitiet=67375&Style=1].</ref> ông qua đời vì bị bỏ đói,<ref>[http://kienthuc.net.vn/channel/1984/201105/Vua-duc-duc-nam-chung-huyet-mo-voi-nguoi-hanh-khat-1798638/], [http://www.covathue.com/cac%20bai%20viet/Tunguyettamvuong.html]</ref> hưởng dương 32 tuổi. Người cai ngục khai rằng ông tuyệt thực mà chết, và đem di hài an táng ở cánh đồng xứ Tứ Tây, xã An Cựu, huyện [[Hương Thủy]], tỉnh Thừa Thiên, sau được gọi là An Lăng.
 
Năm [[1886]] dưới triều vua [[Đồng Khánh]], ông được truy phong là Thụy Nguyên quận vương, thụy là Trang Cung.<ref name="NPT372" /> Năm [[1889]], [[Đồng Khánh]] băng hà, con của Dục Đức là Bửu Lân được lập lên ngôi, tức Hoàng đế [[Thành Thái]]. Vua mới cho lập miếu Hoàng khảo (hay Tân miếu) trong kinh thành để thờ cúng Dục Đức.
 
Năm [[1892]], [[Thành Thái]] truy tôn cha mình là '''Cung Tông Huệ Hoàng đế''' (恭宗惠皇帝). Lăng của Dục Đức là [[An Lăng]], tại làng [[An Cựu]], xã [[Thủy Bằng]], thị xã [[Hương Thủy]], tỉnh [[Thừa Thiên - Huế|Thừa Thiên]]. Năm [[1897]], đổi Tân miếu thành miếu Cung Tông, năm [[1899]] cho xây điện thờ ở An Lăng, gọi là điện Long Ân.<ref name="NPT372" /> Năm [[1901]], vua Thành Thái truy thụy cho cha mình là ''Khoan Nhân Duệ Triết Tĩnh Minh '''Huệ Hoàng đế''''' (寬仁睿哲靜明惠皇帝), [[miếu hiệu]] là '''Cung Tông''' (恭宗).<ref>Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Nhà Xuất bản Văn hóa - Văn nghệ, 1024. Ngày Tân Hợi (ngày 15), truy tiến tôn thụy cho Hoàng khảo Cung Huệ Hoàng đế là Cung Tông Khoan nhân Duệ triết Tĩnh minh Huệ Hoàng đế.</ref>