Khác biệt giữa các bản “Gấu đen Bắc Mỹ”

n
replaced: Chiều dài → Chiều dài, chiều dài → chiều dài (5) using AWB
(Thay tập tin American_Black_bear_map_2.png bằng tập tin American_Black_bear_map_with_borders_removed.png (được thay thế bởi CommonsDelinker vì lí do: File renamed: Criterion 4 (harmonizing)
n (replaced: Chiều dài → Chiều dài, chiều dài → chiều dài (5) using AWB)
[[Tập tin:Dessin comparaison ours.jpg|nhỏ|phải|Khác biệt về hình dạng đầu, bàn chân trước và sau của gấu trắng Bắc Cực (A, B, C), gấu nâu (D, E, F) và gấu đen (G, H, I)]]
 
Hộp sọ của gấu đen Mỹ rất rộng, với cái mũi hẹp và quai hàm lớn. Tổng [[chiều dài]] hộp sọ trung bình của gấu đen trưởng thành tại Virginia, là 262–317&nbsp;mm.<ref name=bioone /> [[Chiều dài]] hộp sọ lớn nhất của loài này đã được thông báo là 23,5 tới 35&nbsp;cm.<ref name=HL /> Đôi mắt nhỏ màu đen hoặc nâu. Đôi tai nhỏ và tròn, ở phía sau trên đầu. Cái mõm dài và nhọn với mũi dài, màu nâu. Con cái có xu hướng có mảnh mai hơn và có khuôn mặt nhọn hơn con đực. Lưỡi và môi có thể chuyển động linh hoạt.
 
Gấu đen có 42 cái răng thích nghi với một chế độ ăn tạp. Các răng cửa có thể được sử dụng để cắt thịt nhưng thường được sử dụng để cắt cỏ và các thực vật trên sàn rừng. Răng nanh có thể được sử dụng để bắt mồi và làm bị thương đối thủ, nhưng thường được sử dụng để xé các tổ ong, kiến và chỗ cư trú của côn trùng. Các răng hàm rất rộng và bằng phẳng được sử dụng để nghiền các loại hạt và quả hay nhai thức ăn thực vật. Gấu đen ít ăn [[thịt]], do đó chúng không cần răng hàm sắc và có hình cắt kéo giống như các [[động vật ăn thịt]] điển hình như chó [[sói]] và các loài [[họ mèo]]. Chúng có cơ hàm khỏe với vết cắn rất mạnh mẽ, đặc biệt là của những con đực <ref name=bear.org />.
 
Chân sau của gấu đen hơi dài hơn so với chân trước và tương đối dài hơn so với chân sau của gấu ngựa. Các bàn chân của loài này tương đối lớn, với [[chiều dài]] chân sau là 13,7-22,5&nbsp;cm, là lớn hơn so với các loài gấu kích thước trung bình khác, nhưng nhỏ hơn nhiều so với bàn chân gấu nâu trưởng thành lớn và đặc biệt là [[gấu trắng Bắc Cực]].<ref name=HL /> Lòng bàn chân có màu đen hoặc nâu, với lớp đệm thịt trần trụi, phủ da và có nếp nhăn sâu. Mỗi bàn chân có năm ngón với móng vuốt không thể thu vào được sử dụng để xé thức ăn, đào bới, cào và trèo cây. Móng vuốt của chúng thường là màu đen hoặc xám. Các móng vuốt ngắn (2–3&nbsp;cm) và tròn, dày ở phía đáy và thuôn nhọn. Các móng vuốt ở cả hai chân trước và sau gần như là có [[chiều dài]] như nhau, mặc dù móng vuốt trước có xu hướng cong nhọn hơn.<ref name=bear />
 
Gấu đen rất khéo léo và thông minh, có khả năng mở lọ nắp xoáy và tháo các chốt cửa. Chúng có thể đứng và đi trên hai chân sau. Chúng cũng có sức mạnh tuyệt vời. Một cú tát bằng chân trước của gấu đen cũng đủ để giết chết một con hươu lớn. Ngay cả các con gấu nhỏ cũng có thể lật ngửa các phiến đá có trọng lượng 141–147&nbsp;kg bằng một chân trước.<ref name= Gary>Brown, Gary (1993). The great bear almanac. Lyons & Burford. ISBN 978-1-55821-210-7.</ref> Chúng di chuyển trên bàn chân một cách chắc chắn nhịp nhàng và có thể chạy với tốc độ 40–50&nbsp;km/h.<ref name= Gary />
 
===Kích thước===
Trọng lượng gấu đen có xu hướng thay đổi theo tuổi, giới tính, sức khỏe, và mùa. Biến đổi trọng lượng theo mùa là rất rõ rệt: vào mùa thu, trọng lượng trước khi ngủ đông của chúng có xu hướng cao hơn 30% so với mùa xuân, khi gấu đen ra khỏi hang. Gấu đen trên bờ biển phía Đông có xu hướng trung bình nặng hơn so với những con gấu ở bờ biển phía Tây, và các con gấu ở phía tây bắc thường hơi nặng hơn so với những con gấu ở phía đông nam. Con đực trưởng thành thường nặng từ 57–250&nbsp;kg, trong khi con mái nhẹ hơn 33% vào khoảng 41–170&nbsp;kg.<ref name=HL /><ref name=Dick>Scorzafava, Dick (2007). Radical Bear Hunter. Stackpole Books. ISBN 978-0-8117-3418-9.</ref> Cá thể trưởng thành thường có [[chiều dài]] đầu và thân từ 120 đến 200&nbsp;cm, và chiều cao vai 70–105&nbsp;cm. Đuôi ngắn và thường dài 7,7-17,7&nbsp;cm.<ref name= Gary /><ref>http://animaldiversity.ummz.umich.edu/site/accounts/information/Ursus_americanus.html</ref><ref>http://www.arkive.org/american-black-bear/ursus-americanus/</ref>
 
Gấu đen trưởng thành tại Khu bảo tồn hoang dã quốc gia Yukon Flats ở phía đông-trung tâm của Alaska có khối lượng trung bình 87,3&nbsp;kg đối với con đực và 63,4&nbsp;kg đối với con cái, trong khi trên đảo Kuiu ở phía đông nam Alaska (nơi loài cá hồi nhiều dinh dưỡng sẵn có) gấu trưởng thành có khối lượng trung bình khoảng 115&nbsp;kg.<ref>http://www.carnivoreconservation.org/files/thesis/peacock_2004_phd.pdf</ref><ref>Peacock, Elizabeth (2004). Population, Genetic and Behavioral Studies of Black Bears Ursus americanus in Southeast Alaska. PhD Thesis, University of Nevada, Reno</ref> Trong Công viên quốc gia Great Smoky Mountains, con đực trưởng thành trung bình là 112&nbsp;kg và con cái trưởng thành trung bình là 47&nbsp;kg.<ref>http://www.discoverlife.org/nh/tx/Vertebrata/Mammalia/Ursidae/Ursus/americanus/</ref> Trong Công viên quốc gia Yellowstone, một nghiên cứu quần thể thấy rằng con đực trưởng thành trung bình là 119&nbsp;kg và con con trưởng thành trung bình 67&nbsp;kg.<ref>Barnes, V.G., and O.E. Bray. 1967. Population characteristics and activities of black bears in Yellowstone National Park. Final rep., Colorado Wildl. Res. Unit, Colorado State Univ., Fort Collins; cited in Characteristics of Black Bears and Grizzly Bears in YNP. nps.gov</ref> Trong tiểu bang California, các nghiên cứu đã cho thấy khối lượng trung bình là 86&nbsp;kg đối với con đực trưởng thành và 58&nbsp;kg ở con cái trưởng thành.<ref name=bioone /> Trong tiểu bang New York, cân nặng trung bình của hai giới được báo cáo là 135&nbsp;kg và 74&nbsp;kg tương ứng.<ref>BLACK BEARS IN NEW YORK: Natural History, Range, and Interactions with People. Bureau of Wildlife – Black Bear Management Team, 2003; Second Edition: 2007</ref>
 
Mặc dù gấu đen là loài gấu nhỏ nhất ở Bắc Mỹ, con đực lớn nhất cũng vượt quá kích thước của các loài gấu khác ngoại trừ [[gấu nâu]] và gấu trắng Bắc cực.<ref name= Gary /> Con gấu đen Mỹ hoang dã lớn nhất từng được ghi nhận là một con đực ở New Brunswick, bị bắn vào tháng 10 năm 1972, nặng 409&nbsp;kg sau khi nó đã bị lột da, nghĩa là nó nặng khoảng 500&nbsp;kg khi còn sống, và có [[chiều dài]] 2,41 m. Một con gấu đen hoang dã ngoại cỡ, nặng 408&nbsp;kg, đã bị bắn vào tháng 12 năm 1921 tại Khu bảo tồn Moqui ở Arizona.<ref name= Guinness>Wood, Gerald (1983). The Guinness Book of Animal Facts & Feats. Sterling Publishing Co. ISBN 978-0-85112-235-9.</ref> Một con gấu có kích thước kỷ lục đã bị bắn ở Morris County, New Jersey vào tháng 12 năm 2011 có kích thước 376,5&nbsp;kg.<ref>Stabile, Jim (2011-12-16) "829-pound bear takes record in N.J. hunt". Daily Record</ref> Thậm chí ở Pennsylvania một con gấu đen lớn hơn (một trong sáu cá thể có cân nặng trên 363&nbsp;kg bắn trong 15 năm qua trong tiểu bang) được ghi nhận có cân nặng 399&nbsp;kg và bị bắn vào tháng 11 năm 2010 tại Pike County.<ref>http://www.poconorecord.com/apps/pbcs.dll/article?AID=/20101119/NEWS/11190341/-1/NEWS01</ref> Trung tâm Gấu Bắc Mỹ, nằm ở Ely, Minnesota, là quê hương của con đực và con cái nuôi nhốt lớn nhất thế giới. Ted, là tên con gấu đực, nặng 431-453,5&nbsp;kg vào mùa thu năm 2006,<ref name=bear.org /> và Honey, con gấu cái, có cân nặng 219,6&nbsp;kg vào mùa thu năm 2007 <ref name=bear.org />
 
===Bộ lông===