Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Nguyễn Xuân”

không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
'''Nguyễn Xuân''' ([[chữ Hán]]: 阮春,; ?-[[1835]]) là một danh tướng [[nhà Nguyễn]] trong [[lịch sử Việt Nam]].
 
==Sự nghiệp==
'''Nguyễn Xuân''' là người ở huyện Tống Sơn, [[Thanh Hóa]]. Năm [[Kỷ Mùi]] ([[1799]]), ông đầu quân chúa [[Gia Long|Nguyễn Phúc Ánh]]. Sau nhiều lần đánh nhau với quân [[Nhà Tây Sơn|Tây Sơn]], ông thăng dần lên chức cai đội.
 
Năm [[Kỷ Mùi]] ([[1799]]), ông đầu quân chúa [[Gia Long|Nguyễn Phúc Ánh]]. Sau nhiều lần đánh nhau với quân [[Nhà Tây Sơn|Tây Sơn]], ông thăng dần lên chức cai đội.
 
Năm [[1819]] đời [[Gia Long]] (tức Nguyễn Phúc Ánh), ông được thăng Phó vệ úy.
[[Tháng mười|Tháng 10]], Nguyễn Xuân kéo đại quân về [[Cố đô Huế|Kinh đô Huế]], được ban tước ''hầu'', gia hàm Thái tử Thái bảo.
 
Nhưng chẳng bao lâu thì ông lâm bệnh mất ([[1835]]). Thái tử Thái bảo Đô thống thự Tiền quân Đô thống phủ Chưởng  phủ sự, Tân Long hầu, Nguyễn Xuân, mất. Vua được tin, nghỉ triều 2 ngày. Dụ Nội các rằng : “Nguyễn“''Nguyễn Xuân, tính vốn thuần cẩn, giữ phận mình không thay đổi, trước đây vâng lệnh đi đánh, thề một lòng đánh giặc cho vua, hai lần đánh bại giặc Xiêm, lấy lại được thành kiên cố, ba năm khó nhọc, lập được công to, sự nghiệp được ghi vào cờ cân thường, tước thưởng được dài mãi với non sông. Những mong được hưởng Phước lâu dài, nào ngờ mới bị bệnh, đã mất, nghe cáo phó, rớt nước mắt, thực đáng thương tiếc ! Vậy chuẩn cho thực thụ ngay, đặt cho tên thuỵ là Vũ Nghị, thưởng gấm hoa, nhiễu hoa, mỗi thứ 3 tấm, sa hoa 5 tấm, tiền 1 nghìn quan, cho 1 tuần tế. Khi đám tang về Thanh Hoa, chuẩn cho các địa phương ở dọc đường theo địa phận hạt mình, thuê dân hộ tống”tống''”.
 
Thương tiếc, vua [[Minh Mạng]] chuẩn cho ông thực thụ chức Tiền quân Đô thống, ban [[tên hiệuthụy]]'''Vũ Nghị'''.
 
Năm [[1838]], nhà vua cho khắc tên ông đứng thứ nhì trên bia Võ công dựng ở trước sân [[Võ miếu Huế|Võ Miếu]] (Huế). Năm [[1858]], vua [[Tự Đức]] cho thờ ông trong đền Hiền Lương.
 
Nguyễn Xuân có một người con trai là Nguyễn Phú, được vua [[Thiệu Trị]] gả em gái là ''An Cát Công chúa'' [[Nguyễn Phúc Nhu Thục|Nhu Thục]] (con gái thứ chín của vua [[Minh Mạng]]) cho, phong làm ''Phò mã Đô úy''. Năm [[Tự Đức]] thứ 2 ([[1849]]), [[Kỷ Dậu]], phò mã Phú mất.
 
==Xem thêm==
==Sách tham khảo==
*[[Quốc sử quán (triều Nguyễn)|Quốc sử quán triều Nguyễn]], ''[[Đại Nam thực lục|Đại Nam chính biên liệt truyện]]''. Nhà xuất bản Văn Học, 2004.
*[[Trần Trọng Kim]], [[Việt Nam sử lược]]. Nhà xuất bản Tân Việt, [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]], 1968.{{Thời gian sống|Sinh=|Mất=1835}}
 
{{Thời gian sống|Sinh=|Mất=1835}}
 
[[Thể loại:Người Thanh Hóa]]
Người dùng vô danh