Khác biệt giữa các bản “Điệu phi (Thanh Thế Tổ)”

không có tóm lược sửa đổi
(bổ sung)
{{Thông tin nhân vật hoàng gia
| tên = '''"Thanh Thế Tổ Điệu phi'''"
| tên gốc = 清世祖悼妃
| tước vị = [[Thuận Trị Đế]] [[Phi]]
| tước vị thêm =
|tước hiệu = [Thứ phi; 庶妃]<br>[Điệu phi; 悼妃]
| hình =
|cha = Hòa Thạc Đạt Nhĩ Hãn Thân vương [[Mãn Châu Tập Lễ]]
| ghi chú hình =
|sinh= không rõ
| chức vị =
|mất= 5 tháng 3 năm 1658
| tại vị =
|nơi mất = [[Tử Cấm Thành, Bắc Kinh]]
| đăng quang =
|ngày an táng = [[10 tháng 7]] năm [[1663]]
| tiền nhiệm =
|nơi an táng = [[Thanh Hiếu Lăng|Hiếu lăng]] (孝陵), [[Thanh Đông lăng]]
| nhiếp chính =
|phối ngẫu= [[Thanh Thế Tổ]]<br>Thuận Trị Đế
| kế nhiệm =
| tôn hiệu =
| miếu hiệu =
| thụy hiệu =
| niên hiệu =
| thời gian của niên hiệu =
| niên hiệu 2 =
| thời gian của niên hiệu 2 =
| niên hiệu 3 =
| thời gian của niên hiệu 3 =
| niên hiệu 4 =
| thời gian của niên hiệu 4 =
| niên hiệu 5 =
| thời gian của niên hiệu 5 =
| niên hiệu 6 =
| thời gian của niên hiệu 6 =
| tước hiệu = [Thứ phi; 庶妃]<br>[Điệu phi; 悼妃]
| hoàng tộc =
| cha = Hòa Thạc Đạt Nhĩ Hãn Thân vương [[Mãn Châu Tập Lễ]]
| mẹ =
| sinh = không rõ
| nơi sinh =
| mất = 5 tháng 3 năm 1658
| nơi mất = [[Tử Cấm Thành, Bắc Kinh]]
| ngày an táng = [[10 tháng 7]] năm [[1663]]
| nơi an táng = [[Thanh Hiếu Lăng|Hiếu lăng]] (孝陵), [[Thanh Đông lăng]]
| học vấn =
| nghề nghiệp =
| tôn giáo =
| chữ ký =
| phối ngẫu = [[Thanh Thế Tổ]]<br>Thuận Trị Đế
| con cái =
| tên đầy đủ =
| tên tự =
| tên hiệu =
}}'''Điệu phi''' ([[chữ Hán]]: 悼妃, ? - 5 tháng 3 năm 1658), [[Bột Nhi Chỉ Cân|Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị]] (博爾濟吉特氏), là một [[phi tần]] nhỏ tuổi của [[Thanh Thế Tổ]] Thuận Trị Hoàng đế. Bà nổi tiếng được Thuận Trị Đế yêu thương và ưu ái. Có lẽ ngoài [[Đổng Ngạc phi|Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu]] Đổng Ngạc thị, Điệu phi là người duy nhất được ông tỏ rõ sự thiên vị.
 
== Xuất thân cao quý ==
Sử sách không ghi năm sinh của '''Điệu phi''', chỉ biết bà xuất thân từ gia tộc [[Bột Nhi Chỉ Cân|Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị]] (博爾濟吉特氏), thuộc bộ tộc [[Khoa Nhĩ Thấm]] của [[Mông Cổ]]. Tổ phụ của bà là [[Trại Tang]] (宰桑), thân phụ của Trác Lễ Khác Đồ Thân vương [[Ngô Khắc Thiện]] (吴克善), Cố Sơn Bối tử [[Sát Hãn]] (察罕), Hòa Thạc Đạt Nhĩ Hãn Thân vương [[Mãn Châu Tập Lễ]] (滿珠習禮), [[Mẫn Huệ Cung Hòa Nguyên phi]] và [[Hiếu Trang Văn hoàng hậu|Hiếu Trang Hoàng thái hậu]]. Mãn Châu Tập Lễ, anh trai của Hiếu Trang Thái hậu, chính là thân phụ của Điệu phi.
 
Theo vai vế gia tộc, bà là cháu gọi Hoàng thái hậu là cô mẫu, là biểu muội của Thuận Trị Đế, đường muội của [[Bát Nhĩ Tế Cát Đặc phế hậu|Phế hậu Tĩnh phi]] và đường cô của [[Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu]].
Khoa Nhĩ Thấm Ba Đồ Lỗ vương chi nữ, tuyển tiến cung trung, nhân đãi niên vị hành sách phong. Kim cự nhĩ trường thệ, trẫm tâm thâm thiết chẩn điệu, nghi truy phong vi phi kỳ phong hào cập ứng hành điển lễ, nhĩ bộ tức sát lệ nghị tấu. Tầm truy phong Điệu phi.}}
 
Ngày [[21 tháng 3]], Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị chính thức được truy phong là '''Điệu phi''' (悼妃). Phong hiệu [ '''Điệu'''] có ý ''"tưởng niệm''". Thuận Trị đếĐế lòng đau xót, thương tiếc cho số mệnh ngắn ngủi của bà, phải rơi rụng khi còn đương xuân sắc.
 
Nghi lễ của bà đều được tiến hành theo Phi vị. "Khâm định Đại Thanh hội điển tắc lệ" có chép: <ref>(清) 乾隆朝二十九年敕撰 胤 裪 等撰. 《 钦定大清会典则例 》: 台湾商务印书馆, 1986 年出版</ref>
== Đãi ngộ vượt bậc ==
 
Điệu phi là người qua đời sớm nhất trong 32 hậu phi của Thuận Trị Đế. Khi bà mất, [[Hiếu lăng]] dù đã được chọn làm nơi ['''vạn niên đại cát'''] cho hoàngHoàng đế (dưới chân núi Xương Thụy thuộc địa phận huyện Cảnh, [[Tuân Hóa]], tỉnh [[Hà Bắc]]) song vẫn còn chưa được khởi công xây dựng. Thuận Trị Đế quyết định an táng Điệu phi bên cạnh Hoàng lăng để hi vọng tương lai có thể cùng bà bầu bạn nơi cửu tuyền. Vì vậy, ông hạ lệnh xây cho Điệu phi một tòa Phi viên tẩm, đến ngày 8 tháng 9 cùng năm thì hạ huyệt, gọi là [ '''Điệu phi viên tẩm''']. Sau đó 2 ngày, Thuận Trị Đế phái Nội đại thần Ba Đồ Lỗ công [[Ngao Bái]] (khi ấy đang là trọng thần của triều đình, tâm phúc của hoàngHoàng đế) đặc biệt vượt đường xa đi cúng tế Điệu phi. Những điều này cho thấy, Thuận Trị đếĐế dành cho bà một tình cảm đặc biệt.
 
Sau này, quan quách của Hoàng quý phi [[Đổng Ngạc phi|Đổng Ngạc thị]] (sau được truy phong Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu), [[Trinh phi]] và [[Khác phi]] cũng được đặt ở Điệu phi viên tẩm 1 thời gian. Cho đến 60 năm sau, ngày 7 tháng 4 năm Khang Hi thứ 57 ([[1718]]), kim quan của Điệu phi và ba vị nói trên được đưa đến an táng tại Hiếu Đông lăng. Bảo đỉnh của bà tọa lạc ở vị trí tôn quý nhất trong 28 vị tần phi.
 
Sau khi kim quan của Điệu phi được dời đi, Điệu phi viên tẩm khi xưa Thuận Trị đếĐế xây dựng cho bà không còn mộ chủ, năm tháng trôi qua ngày một hoang phế, đến những năm cuối triều Thanh đã chẳng còn tồn tại.
 
== Tham khảo ==
Người dùng vô danh