Khác biệt giữa các bản “Tự Đức”

n
clean up, replaced: [[Thể loại:Vua Nhà Nguyễn → [[Thể loại:Vua nhà Nguyễn using AWB
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
n (clean up, replaced: [[Thể loại:Vua Nhà Nguyễn → [[Thể loại:Vua nhà Nguyễn using AWB)
Sau khi dẹp được quân Ngô Côn, triều đình nhà Nguyễn đã cử nhiều quan lại như Võ Trọng Bình, [[Trần Đình Túc]], [[Ông Ích Khiêm]] đến hội đàm với tướng Thanh là Phùng Tử Tài xung quanh vấn đề sự hiện diện của quân Thanh trên đất Đại Nam và buộc Phùng Tủ Tài phải gây sức ép lên quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc để nhóm quân này phải rút về Trung Quốc.
 
Khi Phùng Tử Tài đến Tuyên Quang theo như yêu cầu của Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường, quân Thanh dưới quyền Phùng Tử Tài hội quân với quân Nam tại đấy. Quân Thanh đóng trại ở xã Linh Hồ, ngoài thành.<ref name="Thực Lục Chính Biên p 32">Đại Nam thực lục chính biên, tập 32, Quốc sử quán triều Nguyễn</ref> Phùng Tử Tài phàn nàn về vấn đề lương thực và đạn dược tiếp vận chậm. Để làm vừa lòng ông, Nguyễn Bá Nghi, Đào Trí liền bị vua [[Tự Đức]] cách chức.
 
Vua Tự Đức cũng gửi dụ ra mặt trận ngợi khen Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường giỏi về ứng đối (với tướng nhà Thanh), cho chuyên sung việc hộ dẫn, theo bàn công việc mưu kế đánh dẹp, vỗ về.<ref name="Thực Lục Chính Biên p 32"/> Năm Tự Đức thứ hai mươi ba, Canh ngọ (1870), tại Lạng Sơn, tán tương Nguyễn Văn Tường theo sắc dụ của vua Tự Đức, sung làm khâm mạng đến đại bản doanh của tướng nhà Thanh Phùng Tử Tài để phúng điếu tổng trấn Quan Tùng Chi nhà Thanh mới chết bệnh và các chiến sĩ trận vong của họ với số tiền tượng trưng là 200 lạng bạc cùng nhiều lễ vật khác, đồng thời ông cũng uỷ lạo các doanh quân Thanh bằng số bạc 3000 lạng, để tiễn chân quân Thanh hợp lực tiễu phỉ về nước.<ref name="Thực Lục Chính Biên p 32"/>
Tự Đức được đánh giá là một vị vua có tư cách tốt, tính tình hiền lành. Ông chăm chỉ xem xét việc triều chính và không hề trễ nải, được các quan nể phục. Theo [[Việt Nam sử lược]], ông thường hay chít khăn vàng và mặc áo vàng, khi có tuổi thì ông hay mặc quần vàng và đi giày hàng vàng do nội vụ đóng, không ưa dùng trang sức, cũng không cho các bà cung phi đeo đồ nữ trang, chỉ cốt lấy sự ăn mặc sạch sẽ làm đẹp. Ông thường dậy sớm thiết triều từ 6 giờ sáng, chăm chỉ phê duyệt tấu chương, là một vị vua cần cù chăm chỉ.
 
Nhưng Tự Đức cai trị đúng vào một thời đại khó khăn, trong nước lắm loạn, bên ngoài thì có Pháp xâm lấn. Bản thân ông chăm chỉ nhưng không đủ tài để đưa ra các chính sách cải cách nhằm xoay chuyển cục diện đất nước. Trong việc chiến sự với Pháp, ông tỏ ra là người nhu nhược, quân triều đình mới thất bại vài trận mà ông đã lo cắt đất Nam Kỳ lục tỉnh để cầu hòa với Pháp, dù nghĩa quân chống Pháp ở Nam bộ vẫn đang chiến đấu và đã thu được một số thắng lợi.
 
Vua thì ở trong cung điện, việc đời không biết rõ nên phải lấy các quan làm tai mắt, nhưng các quan lại phò tá Tự Đức đều là người học hành theo lối khoa cử thời cũ, không am hiểu thời đại mới, cho nên mọi việc đều hỏng cả. Trần Trọng Kim đánh giá: ''"Dù rằng vua có trách nhiệm vua, quan có trách nhiệm quan, dẫu thế nào vua Dực Tông cũng không tránh khỏi cái lỗi với nước nhà, nhưng mà xét cho xác lý, thì cái lỗi của đình thần lúc bấy giờ cũng không nhỏ vậy"''.<ref name="vnsl"/>
:''Tôi quy vu chủ''
:''Hạc trắc khuyển tử''
:''Tường hà luật xử?''
 
Dịch thơ
{{Thời gian sống|1829|1883}}
 
[[Thể loại:Vua Nhànhà Nguyễn]]
[[Thể loại:Người Huế]]
[[Thể loại:Nhà Nho Việt Nam]]