Khác biệt giữa các bản “USS Wyoming (BB-32)”

n (→‎top: sửa chính tả 3, replaced: Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ → Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ using AWB)
 
''Wyoming'' tiến hành các cuộc cơ động và thực tập chiến thuật cùng với các đơn vị của Hạm đội Grand cho đến ngày [[6 tháng 2]] năm [[1918]]. Ngày hôm đó, nó lên đường cùng với các tàu chiến khác của Hải đội Chiến trận 6 và tám [[tàu khu trục]] Anh Quốc để bảo vệ một đoàn tàu vận tải đi đến [[Stavanger, Na Uy]]. Trên đường đi, ''Wyoming'' đã phải cơ động né tránh khi phát hiện những làn sóng [[ngư lôi]] ngoài khơi Stavanger vào ngày [[8 tháng 2]], nhưng đã quay về Scapa Flow an toàn hai ngày sau đó. Trong những tháng tiếp theo, ''Wyoming'' tiếp tục tuần tra ngoài khơi quần đảo Anh Quốc, bảo vệ các tuyến đường biển thương mại chung quanh đó khỏi mối đe dọa của [[Hạm đội Biển khơi Đức]] vốn còn rất hùng mạnh.
 
Từ ngày [[30 tháng 6]] đến ngày [[2 tháng 7]] năm [[1918]], ''Wyoming'' hoạt động cùng với Hải đội 6 và một phân đội tàu khu trục Anh trong việc bảo vệ các tàu rải mìn Đồng Minh, khi chúng rải hàng rào mìn tại [[Bắc Hải (châu Âu)|Bắc Hải]]. Sau đó, ''Wyoming'' quay trở về [[Firth of Forth]], nơi nó cùng với những đơn vị khác của Hạm đội Grand được Vua [[George V của Anh]] thị sát.
 
Mặc dù các tàu chiến chủ lực của Hoa Kỳ và Đức Quốc chưa từng chạm trán với nhau trong chiến đấu ngoài biển khơi, chúng đã có cuộc gặp gỡ. Vào ngày [[21 tháng 11]] năm [[1918]], mười ngày sau việc đình chiến kết thúc Thế Chiến I, ''Wyoming'', ''New York'', [[USS Texas (BB-35)|''Texas'']] và [[USS Arkansas (BB-33)|''Arkansas'']] tham gia cùng Hạm đội Grand Anh Quốc khi nó hộ tống Hạm đội Biển khơi Đức đi vào [[Firth of Forth]] để được lưu giữ theo những điều kiện của thỏa thuận ngừng bắn.