Khác biệt giữa các bản “Trương Thị Thận”

n
Năm Thiệu Trị thứ 6 ([[1846]]), bà lại được thăng lên hàng '''Tam giai Thụy tần''' (三階瑞嬪).
 
=== Tôn phongHoàng Tháithái phi ===
Năm Tự Đức thứ 36, [[Tự Đức]] băng hà, [[Dục Đức]] bị hai quyền thần là [[Nguyễn Văn Tường]] và [[Tôn Thất Thuyết]] phế truất. Con trai bà là Lãng Quốc công [[Nguyễn Phúc Hồng Dật]] được đưa lên làm Hoàng đế, lấy niên hiệu [[Hiệp Hoà]]. Bà Thụy tần cũng được tôn phong lên làm ''[[Hoàng thái phi'']]<ref>Thụy tần Trương thị chỉ được phong Thái phi do bà [[Từ Dụ Hoàng thái hậu]] vẫn còn sống</ref>, ngày sinh nhật của bà được gọi là ''Thiên Xuân tiết'' (千春節). Bốn tháng sau, [[Hiệp Hoà]] bị [[Tôn Thất Thuyết]] phế truất và xử chết. Hoàng thái phi cũng bị giáng trở lại làm '''Thụy tần''' (瑞嬪), sau này trong Chính biên Liệt truyện sửa lại là '''Đoan tần''' (端嬪).
 
Ngày 1 tháng 12 năm Mậu Tí (nhằm ngày [[2 tháng 1]] năm [[1889]] Dương lịch), dưới triều [[Đồng Khánh]], Thụy tần qua đời, thọ 72 tuổi. Bà được táng tại Dương Xuân Hạ, huyện [[Hương Thủy]], tỉnh [[Thừa Thiên]]. Năm [[1917]], dưới triều [[Khải Định]], tẩm mộ của Thụy tần được cải táng về Long Khê, huyện [[Hương Trà]], tỉnh [[Thừa Thiên]].