Khác biệt giữa các bản “Vương phi”

không có tóm lược sửa đổi
Từ đó về sau, sang thời [[Tào Ngụy]], các [[Hoàng tử]] được phong làm [[tước Vương]] thì vợ chính của họ được gọi là Vương phi, như chính thê của Ngụy Minh Đế Tào Duệ khi còn là Bình Nguyên vương là [[Ngu phi (Ngụy Minh Đế)|Ngu phi]]<ref>《三國志·魏書·后妃傳》: 初,明帝為王,始納河內虞氏為妃,帝即位,虞氏不得立為后,太皇后卞太后慰勉焉。</ref>, rồi [[Chử Toán Tử]] khi gả cho [[Tấn Khang Đế]] lúc còn là Lang Tà vương đã được gọi là Lang Tà vương phi<ref>《晉書·列傳第二》: 康獻褚皇后,諱蒜子,河南陽翟人也。父裒,見《外戚傳》。后聰明有器識,少以名家入為瑯邪王妃。</ref>. Lệ này kéo dài xuyên suốt các triều đại về sau, nhưng đến thời [[nhà Tống]] thì lại ban danh hiệu của [[Mệnh phụ]] cho vợ các Hoàng tử là ['''Quốc phu nhân'''; 國夫人] hoặc ['''Quận phu nhân'''; 郡夫人].
 
Tiếp đó thời [[nhà Minh]], cách gọi Vương phi được khôi phục. Do triều Minh chia tước Vương làm Thân vương và Quận vương, tuyđịa vị khác nhau, vợ của họ tương ứng được gọi là ['''Thân vương phi'''; 親王妃] cùng ['''Quận vương phi'''; 郡王妃] do đó cũng khác biệt về địa vị<ref>《明史•志第四十•儀衛》: 親王妃儀仗:紅杖二,清道旗二,絳引幡二,戟氅、吾杖、儀刀、班劍、立瓜、臥瓜、骨朵、鐙杖各二,響節四,青方傘二,紅彩畫雲鳳傘一,青孔雀圓扇四,紅花扇四,交椅一,腳踏一,水盆一,水罐一,紅紗燈籠四,拂子二。公主、世子妃儀仗俱同。郡王妃儀仗:紅杖二,清道旗二,絳引幡二,戟氅、吾杖、班劍、立瓜、骨朵各二,響節二,青方傘二,紅圓傘一,青圓扇二,紅圓扇二,交椅一,腳踏一,拂子二,紅紗燈籠二,水盆一,水罐一。。。舊例,郡王儀仗有交椅、馬杌,皆木質銀裹;水盆、水罐及香爐、香合,皆銀質抹金;量折銀三百二十兩。郡王妃儀仗,有交椅等大器,量折銀一百六十兩。餘皆自備充用。嘉靖四十四年定,除親王及親王妃初封儀仗照例頒給外,其初封郡王及郡王妃折銀等項,並停止。萬歷十年定,郡王初封系帝孫者,儀仗照例全給,系王孫者免。蓋宗室分封漸多,勢難遍給也。</ref>. Tuy các công thần khác họ vẫn có thể được truy tặng tước Vương, nhưng vợ của họ chỉ được gọi là [''"Vương phu nhân"''] mà không thể xưng Vương phi<ref>《明史•列传第一•后妃》: 帝封马公徐王,郑媪为王夫人,修墓置庙焉。</ref>. Thời [[nhà Thanh]], triều đình gọi các Vương phi là [[Phúc tấn]], tuy nhiên ''"Vương phi"'' vẫn thỉnh thoảng được dùng theo một cách không chính thức.
 
Ở những nước cũng xưng Hoàng đế như [[Nhật Bản]], vợ của '''Thân vương''' (親王) gọi là '''Thân vương phi''' (親王妃), như [[Thu Tiểu cung Thân vương phi Kiko|Thân vương phi Kiko]], vợ của [[Fumihito|Thân vương Fumihito]]. Tại các quốc gia có truyền thống các vị vua xưng Vương, như [[Triều Tiên]] và [[Lưu Cầu]] thì chính thất của họ là Vương phi. Vào thời kỳ đầu [[Cao Ly]], chính phối của Quốc vương xưng là [[Vương hậu]], sau con lên ngôi xưng là ['''Vương thái hậu'''; 王太后]. Tuy nhiên, sau này các vua Cao Ly chỉ phong cho vợ mình làm Vương phi, chồng chết thành ['''Vương thái phi'''; 王太妃], sau khi chết mới được truy hiệu Vương hậu. Tục lệ này được [[nhà Triều Tiên]] noi theo, chỉ là Vương thái phi thay bằng ['''Vương đại phi'''; 王大妃] mà thôi. Tuy nhiên, vương tộc Triều Tiên Lý thị thời xưa thường gọi tránh danh hiệu Vương phi, mà thường gọi họ bằng các từ ám chỉ như là '''Trung điện''' (中殿), '''Khôn điện''' (坤殿), hay '''Trung cung''' (中宮).