Khác biệt giữa các bản “Minh Thành Tổ”

n
clean up, replaced: [[Thể loại:Vua nhà Minh → [[Thể loại:Hoàng đế nhà Minh using AWB
Thẻ: Soạn thảo trực quan Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
n (clean up, replaced: [[Thể loại:Vua nhà Minh → [[Thể loại:Hoàng đế nhà Minh using AWB)
| mẹ = [[Mã hoàng hậu (Minh Thái Tổ)|Hiếu Từ Cao hoàng hậu]]<br>''Có thuyết là Cống phi''
| tôn hiệu =
| miếu hiệu = [[Thái Tông]] (太宗)<br>[[Thành Tổ]] (成祖)<ref name = "doithuymieu">< /ref>
| niên hiệu = [[Vĩnh Lạc]] (永樂)
| thời gian của niên hiệu =
 
==== Các đại thần khác của Kiến Văn Đế ====
Thiết Huyền là Binh bộ thượng thư của [[Minh Huệ Đế|Kiến Văn Đế]] bị bắt vào điện. Chu Đệ ngồi trên ngự tọa, Thiết Huyền đứng quay lưng ở dưới cho đến khi chết cũng không quay lại nhìn Chu Đệ. Chu Đệ sai người cắt mũi và tai Thiết Huyền, đem nấu chín rồi nhét vào miệng ông hỏi rằng: ''"Thịt có ngọt không?"''. Thiết Huyền lớn tiếng đáp: ''"Thịt của trung thần hiếu tử làm sao lại không ngọt"''. Tức thì, Chu Đệ ra lệnh cắt mạch cổ tay ông, Thiết Huyền miệng cứ chửi rủa mãi cho đến chết. Chu Đệ tức giận, lại bắt cả cha mẹ Thiết Huyền đã ngoài 80 tuổi [[Phát vãng|phát vãng]] đi Hải Nam làm khổ dịch, giết chết hai đứa con mới hơn 10 tuổi của ông, đồng thời đưa vợ và hai con gái ông giao cho [[Nhà thổ|nhà chứa]] để đàn ông mặc sức chà đạp.
 
Còn Tề Thái, Hoàng Tử Trình cũng bị xử lăng trì và [[Tru di]] tam tộc.
Lúc bấy giờ, có người liền tố giác với Chu Đệ: chỉ có kẻ đã trà trộn vào Phật môn mới có thể trốn tránh được quan quân triều đình! Hơn nữa, khi phất cờ khởi nghĩa, [[Đường Trại Nhi]] từng tự xưng là "Phật mẫu", khiến Chu Đệ càng tin vị nữ hiệp này có liên quan tới cửa Phật.
 
Năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420), Minh Thành Tổ Chu Đệ đột nhiên hạ lệnh bắt tất cả các ni cô và nữ đạo sĩ ở [[Sơn Đông]], Bắc Kinh về kinh sư để thấm vấn, xác minh thân phận. Mặc dù mệnh lệnh được ban hành trên danh nghĩa "thẩm vấn", nhưng triều đình nhiều lần lạm dụng nhục hình, thậm chí còn bắt tay với tầng lớp [[Hòa thượng|hòa thượng]] để đẩy những phụ nữ xuất gia vào cảnh "sống không bằng chết".
 
Tháng 7 cùng năm, Minh Thành Tổ phong cho Đoàn Minh làm Tả tham chính Sơn Đông, tiếp tục truy tìm tung tích của Đường Trại Nhi. Để lập công với Thành Tổ, Đoàn Minh mở rộng phạm vi điều tra ra cả nước, làm liên lụy tới mấy vạn phụ nữ đã xuất gia, tu hành. Sự kiện này đã từng được ghi lại trong "Minh sử": ''"Tháng hai năm Vĩnh Lạc thứ 18, Đường Trại Nhi người Sơn Đông làm phản nhưng không bắt được, triều đình liền bắt giữ hàng vạn phụ nữ xuất gia."''
Sau khi tàn sát các quan lại cũ của Minh Huệ Đế, chính quyền trung ương có những thiếu sót rất lớn về quan viên. Minh Thành Tổ vì vậy rất khao khát những người đọc sách có tài nguyện ý ra giúp mình. Ngay khi lên ngôi ông đã hạ lệnh mở ân khoa tuyển chọn sĩ tử vào triều làm quan để lấp các chỗ trống, tuy nhiên ông cũng rất khắt khe với việc gian lận. Thời Hồng Vũ, Minh Thái Tổ vì ít đọc sách nên không đặt nặng việc khoa cử, chỉ bổ nhiệm các thân tín, Thành Tổ cho cải cách khoa cử để hấp dẫn tầng lớp trí thức ra sức làm quan giúp mình. Ông đặt rất nhiều tâm huyết vào việc tuyển chọn nhân tài, thậm chí ông còn có những nguyên tắc riêng khi dùng người. Mặc dù là người độc đoán, Vĩnh Lạc cũng chứng tỏ mình là người sáng suốt và khôn ngoan khi biết tiếp thu có chọn lọc ý kiến của các cố vấn.
 
Để giúp đỡ cho công việc của hoàng đế, Minh Thành Tổ đã cho thành lập một cơ quan mới là [[Nội các]] tập hợp các đại thần thân tín với người đứng đầu được gọi là Thủ phụ. Nội các sẽ giúp hoàng đế quản lý [[Lục bộ]] và các sự kiện quan trọng của đế quốc, chia sẻ và giảm bớt gánh nặng cho hoàng đế. Đây là việc không bao giờ xảy dưới triều [[Minh Thái Tổ]], một người độc tài và không bao giờ tin tưởng thần tử của mình. Tuy nhiên đây cũng là tác hại lớn, khi các hoàng đế đời sau từ Anh Tông bắt đầu sa vào hưởng lạc, không quan tâm triều chính nên không còn giữ được sự khống chế với Nội các. Quyền lực của Nội các càng lúc càng lớn, có quyền bổ nhiệm quan viên, kiểm soát ngân khố và thậm chí là điều động quân đội. Người đứng đầu Nội các, sau hoàng đế, mới là người thực sự điều khiển đất nước như [[Nghiêm Tung]] hay thậm chí lấn át cả hoàng đế như [[Trương Cư Chính]]. Đây là một trong những điều dẫn đến sự suy vong của Nhà Minh. Thành Tổ còn là một vị vua nghiêm khắc với quan lại tham nhũng, trừng phạt họ giống như cha mình là Thái Tổ. Quan viên tham ô 60 lượng bạc thì [[Chém đầu|chém đầu]], nhiều hơn thì lột da.
 
=== Kinh tế ===
 
=== Văn hóa ===
Năm Vĩnh Lạc thứ 2 (1403), Thành Tổ cho người biên soan một bộ [[Bách khoa toàn thư|bách khoa toàn thư]], lấy tên là [[Vĩnh Lạc đại điển]], với chủ biên là Thủ phụ đầu tiên của Nhà Minh là [[Giải Tấn]], một học giả tài danh đương thời cùng với 147 học giả khác. Bộ sách được biên soạn với mục đích gìn giữ bảo vệ văn hóa và văn học Trung Quốc bằng chữ. Đến năm 1408, bộ sách được hoàn thành, trở thành bách khoa toàn thư đầu tiên của thế giới và là bộ sách đồ sộ nhất của thể loại này, tuy nhiên vì quá to lớn, nên bộ sách không được in ra mà chỉ có một bản duy nhất, đến nay đã gần như mất dần với thời gian.
 
Minh Thành Tổ còn là người khoan dung với các tư tưởng triết học khác với mình (nhà vua là người theo đạo [[Khổng Mạnh]]), đối xử bình đẳng với các tôn giáo [[Phật giáo|Phật]]-[[Đạo giáo|Đạo]]-[[Nho giáo|Nho]]. Mặc dù các nho sinh đương thời xem ông là kẻ đạo đức giả, việc đối xử khoan dung và bình đẳng tôn giáo đã giúp ông có được sự yêu quý của nhân dân, củng cố sự thống nhất đế quốc. Việc xem trọng văn hóa truyền thống đã dấy lên làn sóng căm ghét văn hóa Mông Cổ còn sót lại ở Trung Quốc, hoàng đế xem việc ăn mặc, đặt tên, nói năng như người Mông Cổ là rác rưởi và ra lệnh cấm tiệt. [[Đạo Hồi]] dưới triều ông cũng rất phát triển, nhà vua đã ra lệnh xây thêm 2 nhà thờ Hồi giáo để truyền giáo. Ông được nhân dân đương thời gọi là "Vị Phật năng động".
Sách [[Minh thực lục]] do Minh Thành Tổ Chu Đệ sau khi lên ngôi chủ trì biên soạn, cũng như các sử liệu chứng thích từ [[Minh sử]] đều nói rằng, Chu Đệ là do [[Mã hoàng hậu (Minh Thái Tổ)|Mã Hoàng hậu]] sinh ra. Chu Đệ có ba người anh, tức Thái tử [[Chu Tiêu]], Tần vương [[Chu Sảng]], Tấn vương [[Chu Cương]]. Chu Đệ là con trai thứ 4 và bên dưới còn một người em cũng do Mã Hoàng hậu sinh ra là Chu Túc. Tuy nhiên, các văn nhân thời Minh và Thanh thì đều cho rằng, chính sử đã ''“bịa chuyện”'', và mẹ ruột của Chu Đệ là '''Cống phi''' (碽妃)<ref>Chữ [碽] có âm đọc là ''gong'', gần với Công, Cống hay Cung.</ref>, vốn là một phụ nữ người [[Triều Tiên]] và từng là phi tần của [[Nguyên Thuận Đế]].
 
Căn cứ Minh sử, 5 người con trai của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đều do Hiếu Từ Cao Hoàng hậu Mã thị sinh ra. Tuy nhiên dựa vào việc Chu Đệ sinh vào ngày 17 tháng 4 (âm lịch) năm Chí Chính thứ 20 ([[1360]]), và Hoàng ngũ tử Chu Định vương Chu Túc sinh vào ngày 9 tháng 7 (âm lịch) sang năm ([[1361]]), chỉ 1 năm mà tới 2 người con, đấy là cơ sở nghi vấn liệu Mã Hoàng hậu có thực sự là sinh mẫu của các hoàng tử của Chu Nguyên Chương, và có nghi ngờ toàn bộ cả 5 không do Mã Hoàng hậu sinh ra. Sách ''[[Tội duy lục]]'' (罪惟錄) của người Minh ghi chép lại đương thời, song đã từng nhắc đến ''"Có người nói Cao Hoàng hậu không con"'', chứng tỏ việc này đã sớm bị người Minh hoài nghi, chưa nói đến về sau. Bên cạnh đó, [[Phụng sứ lục]] (奉使录) của người Triều Tiên đương thời cũng ghi lại nhận định Chu Đệ không phải do Mã Hoàng hậu sinh ra. Theo đó, những ghi chép về Cống phi không còn nhiều, song nhiều người cho rằng, là một hậu phi trong hậu cung nhà Nguyên của Nguyên Thuận Đế, được Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương giữ lại làm chiến lợi phẩm sau khi đuổi được nhà Nguyên ra khỏi Trung Quốc.
 
Đối với quan niệm Cống phi là mẹ của Chu Đệ, có rất nhiều người nhận định và tin tưởng<ref>朱彝尊说:“中述孝慈高皇后无子,不独长陵为高丽碽妃所出,而懿文太子及秦晋二王,皆李淑妃产也。闻者争以为骇。史局初设,彝尊尝以是质诸总裁前辈,总裁谓宜仍实录之旧。今观天启三年《南京太常寺志》,大书‘孝陵殿宇中,设高皇帝后主,左配生子妃五人,右只碽妃一人’。事足征信。然则实录出于史臣之曲笔,不足从也。”(朱彝尊:《曝书亭集》卷44)</ref><ref>傅斯年以为,“实为碽妃子,不为高后”,“庚辛帝子一说乃妄人之谈,敌国之语,不足道者也”</ref><ref>朱希祖在其《明成祖生母记疑辩》反對傅斯年的說法:“若高丽果有过碽氏为太祖妃或成祖母,则高丽史亦必大书特书,载其家世,如元顺帝皇后奇氏矣。且明太祖妃韩氏、明成祖权妃、任顺妃、李昭仪、吕婕妤、崔美人皆能详其家世,独碽妃则高丽及朝鲜史皆无记载。”</ref>. Một tài liệu khác gọi là [[Nam Kinh Thái thường chí]] (南京太常志) ghi lại cụ thể: [''"Thần vị ở Hiếu lăng, bên Tả là một người Thục phi họ Lý, sinh Ý Văn Thái tử (Chu Tiêu), Tần Mẫn vương và Tấn Cung vương. Bên Hữu là vị Cống phi, sinh Thành Tổ Văn Hoàng đế, Tôn Quý phi, sinh Chu vương"''; 孝陵神位,左一位淑妃李氏,生懿文太子、秦愍王、晉恭王。右一位碽妃,生成祖文皇帝,孫貴妃生周王。]. Nhưng thời điểm cả nhà Lý Thục phi đến cậy nhờ Chu Nguyên Chương, thì Chu Tiêu đã được ra trước đó 1 năm. Sách ''[[Tĩnh Chí cư thi thoại]]'' (靜志居詩話) của [[Chu Di Tôn]] (朱彝尊), cuốn 13, nhan đề ''Thẩm Nguyên hoa điều'' (沈元華條) có viết: [''"Phụng Tiên Miếu chế (Nam Kinh Thái Miếu Phụng Tiên điện), cao về phía mặt Nam, chư Phi đều ở phía Đông, riêng phía Tây chỉ chừa 1 vị Cống phi, cứ theo Nam Kinh Thái thường chí. Cao hậu sinh thời thiện lương nhưng chưa từng có mang, dẫu cho Trường lăng (ý nói Chu Đệ), đến Ý Văn Thái tử cũng không phải Hậu sở sinh"''; 奉先廟制(南京太廟奉先殿)高後南面,諸妃盡東列,西序惟碽妃一人,具載南京太常寺志。善高后從未懷妊,豈惟長陵,即懿文太子亦非后生也。]. Tuy nhiên Cống phi theo ghi chép là đến Trung Quốc vào năm [[1365]], [[mùa xuân]], khi Chu Đệ đã 5 tuổi, thật sự khó có thể xem là mẹ đẻ. Bên cạnh đó, ''"Thái thường tự chí"'' được nhắc đến bên trên, phần nhiều đã được chứng minh là bóp méo sai sự thực, và người bóp méo là [[Trương Đình Ngọc]], khi soạn sử Minh nhưng ''"hư hư thực thực"'' biên vào các ký lục truyền miệng<ref>吴晗:《明成祖生母考》</ref>.
[[Thể loại:Mất năm 1424]]
[[Thể loại:Họ Chu]]
[[Thể loại:VuaHoàng đế nhà Minh]]
[[Thể loại:Nhân vật quân sự nhà Minh]]