Khác biệt giữa các bản “Kinh tế học quốc tế”

n
Thẻ: Soạn thảo trực quan Đã được lùi sửa
Thẻ: Soạn thảo trực quan Đã được lùi sửa
Học thuyết kinh tế của trường phái [[Chủ nghĩa trọng thương|trọng thương]] đã chiếm được sự ưu thế trong [[thế kỷ 17]] và [[thế kỷ 18|18]].
 
Nội dung của học thuyết này là một quốc gia để trở nên giàu có phải xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Thặng dư xuất khẩu được thu hồi trở lại bằng tiền tệ thực là vàng bạc. Một quốc gia càng nhiều vàng bạc thì càng là quốc gia giàu có. Vì vậy, Chính phủ phải làm tất cả trong khả năng có được để khuyến khích xuất khẩu đồng thời hạn chế nhập khẩu (đặc biệt là nhập khẩu những hàng hóa xa xỉ). Mặc dù vậy, các quốc gia không thể cải thiện được thặng dư thương mại của họ, và tổng số vàng bạc vẫn cố định. Một quốc gia có thể thu được thặng dư từ sự chi trả của các quốc gia khác, các nhà trọng thương đã thuyết giáo chủ nghĩa dân tộc về kinh tế, tin tưởng như họ đã lý luận, dẫn đến các lợi ích quốc gia bị xung đột lẫn nhau.
 
HọcThời điểm thế kỷ 17 và 18, học thuyết kinh tế trọng thương đo lường sự giàu có của một quốc gia bởi số lượng vàng mà quốc gia đó có. Ngược lại, ngày nay sự giàu có của một quốc gia được đo lường bởi khả năng của họ về nguồn lực con người, tài nguyên có thể cung cấp cho sản xuất và dịch vụ. Nguồn lực này càng phong phú, sử dụng càng có hiệu quả thì dòng chảy hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn con người càng dồi dào, tiêu chuẩn sống của quốc gia càng cao.
 
Có nhiều lý do vềgiải sựthích cho mơ ước của các nhà trọng thương trong việc tích lũy vàng bạc, điều này có thể hiểu được vì các nhà trọng thương viết theo ý tưởng của nhà cầm quyền và để tăng khả năng của quốc gia. Có nhiều vàng bạc sẽ có quyền lực và quân đội mạnh củng cố khả năng của họ; tăng cường quân đội và hải quân cũng tạo điều kiện cho họ có được nhiều thuộc địa. Đồng thời, có nhiều tiền vàng cũng có nghĩa là khả năng buôn bán cao hơn, bằngthông qua khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu Chính phủ có thể khuyến khích sản lượng quốc dân và công ăn việc làm.
 
Học thuyết kinh tế [[Chủ nghĩa trọng thương|trọng thương]] ủng hộ sự kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ về các hoạt động kinh tế và tăng cường chủ nghĩa dân tộc về kinh tế bởi vì họ tin tưởng rằng một quốc gia có thể thu được thặng dư từ thương mại chỉ khi chiếm đoạt được của cải từ nước khác (vì thương mại là một cuộc chơi có tổng lợi ích không đổi, và tổng lợi ích của hai chủ thể tham gia thương mại là bằng 0). Quan điểmNghĩa nàylà trong quan trọnghệ trao haiđổi, khi do:một bên có lợi nhuận thì một bên thua lỗ, cơ sở cho lợi nhuận của bên này là sự mất mát của bên còn lại.
 
#''Thứ nhất, ý tưởng của [[Adam Smith]], [[David Ricardo]] và các nhà kinh tế học cổ điển khác có thể hiểu một cách tốt nhất nếu họ trong vị trí phản bác lại quan điểm trường phái trọng thương về thương mại và về vai trò của Chính phủ;''
Quan điểm này quan trọng vì hai lý do:
 
#''Thứ nhất, ý tưởng của [[Adam Smith]], [[David Ricardo]] và các nhà kinh tế học cổ điển khác có thể hiểu một cách tốt nhất nếulà khi họ trongđang đứng ở vị trí phản bác lại quan điểm trường phái [[Chủ nghĩa trọng thương|trọng thương]] về thương mại và về vai trò của Chính phủ;''
#''Thứ hai, hiện nay dường như có sự phục hồi của trường phái trọng thương mới, khi các quốc gia vấp phải nạn thất nghiệp cao có khuynh hướng hạn chế nhập khẩu để thúc đẩy sản xuất trong nước và công ăn việc làm.''
 
=== HỌC THUYẾT LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI CỦA [[Adam Smith|ADAM SMITH]] ===
Học thuyết này bắt đầu với sự thật giản đơn, hai quốc gia trao đổi thương mại trên cơ sở tình nguyện thì cả hai quốc gia đều thu được từ thặng dư. Nếu một quốc gia không thu được gì, hoặc bị lỗ, họ sẽ từ chối thương mại. Học thuyết trả lời cho câu hỏi: Thặng dư qua lại từ thương mại đã được phát sinh và chuyển dịch như thế nào?
===[[Lợi thế tuyệt đối]]===
*Học thuyết đưa ra mệnh đề: Thương mại giữa hai quốc gia được dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối. Khi một quốc gia sản xuất một hàng hóa có hiệu quả hơn so với quốc gia khác nhưng kém hiệu quả hơn trong sản xuất hàng hóa thứ hai, hai quốc gia có thể thu được lợi ích bằng cách mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu hàng hóa có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu hàng hóa không có lợi thế. Thông qua quá trình này, các nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả nhất và sản lượng của cả hai hàng hóa đều tăng. Sự tăng lên về sản lượng của hai hàng hóa này do lượng thặng dư từ chuyên môn hóa trong sản xuất được phân bố lại giữa hai quốc gia thông qua thương mại.
*Theo khía cạnh này, một quốc gia cũng tương tự như một cá nhân, không nên cố gắng sản xuất tất cả hàng hóa cho mình, mà nên tập trung sản xuất hàng hóa mình có sở trường nhất, đem trao đổi một phần sản phẩm đó lấy sản phẩm khác cần dùng, theo cách này tổng sản lượng của các cá nhân cộng lại sẽ tăng, phúc lợi của mỗi các nhân cũng tăng.
*Như vậy, khi đối chiếu với học thuyết Trọng thương, trong khi học thuyết kinh tế trọng thương tin tưởng một quốc gia chỉ có thể thu được thặng dư từ thương mại bằng cách tước đoạt của nước khác và ủng hộ sự quản lý chặt chẽ của Chính phủ về hoạt động kinh tế và thương mại, thì Học thuyết lợi thế tuyệt đối của [[Adam Smith]] tin tưởng rằng một quốc gia có thể thu được thặng dư từ thương mại và ủng hộ mạnh mẽ cho chính sách tự do kinh doanh. Thương mại tự do có thể làm cho nguồn lực của thế giới được sử dụng một cách hữu hiệu nhất và có thể tối đa hóa phúc lợi toàn thế giới. Có thể có một vài trường hợp ngoại lệ bằng cách tự do kinh doanh, một trong số này là sự bảo hộ các ngành công nghiệp quan trọng của quốc gia. Dường như có nghịch lý là ngày nay hầu hết các quốc gia sử dụng nhiều biện pháp hạn chế thương mại tự do. Các biện pháp hạn chế thương mại được tỷ lệ hóa theo phúc lợi của quốc gia. Trên thực tế, các biện pháp hạn chế thương mại được một số ngành công nghiệp và những công nhân của ngành đó những người bị tổn thất vì hàng nhập khẩu ủng hộ. Như vậy, các biện pháp hạn chế thương mại tạo ra lợi ích cho thiểu số nhưng làm tổn thất tới đa số (những người phải trả giá cao hơn để cạnh tranh với hàng hoá trong nước).
 
====Minh họa về [[Lợi thế tuyệt đối]]====
|}
*Một quốc gia sản xuất cả hai hàng hóa đều kém hiệu quả hơn quốc gia kia vẫn có thể thu được lợi ích thương mại. Quốc gia đó sẽ tập trung sản xuất và xuất khẩu hàng hóa kém lợi thế ít hơn, và nhập khẩu hàng hóa kém lợi thế nhiều hơn. Chi tiết về quy luật này có thể phân tích qua số liệu ở bảng bên.
*Bảng số liệu này trình bày, [[Anh]] hiện nay chỉ sản xuất được 2 thước vải trong một giờ lao động. Nước Anh không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai hàng hóa khi so sánh với [[Hoa Kỳ]] vì hao phí lao động trong sản xuất cả hai hàng hóa đều cao hơn Hoa kỳ. Tuy vậy, tại Anh hao phí lao động trong sản xuất vải chỉ lớn gấp hai lần, trong khi hao phí lao động trong sản xuất lúa mỳ lớn gấp sáu lần so với Hoa Kỳ, nước Anh có lợi thế so sánh trong sản xuất vải. Hoa Kỳ có lợi thế tuyệt đối trong cả hai loại hàng hóa so với Anh, nhưng lợi thế tuyệt đối lớn hơn trong sản xuất lúa mỳ (6/1) so với sản xuất vải (4/2), Hoa Kỳ có lợi thế so sánh trong sản xuất lúa mỳ. Tóm lại, lợi thế tuyệt đối của Hoa Kỳ lớn hơn trong lúa mỳ, vì vậy Hoa Kỳ có lợi thế so sánh trong sản xuất lúa mỳ. Bất chấp ''lợi thế tuyệt đối'' của Anh nhỏ hơn trong sản xuất vải, Anh vẫn''lợi thế so sánh'' trong sản xuất vải. Theo ''quy luật về lợi thế so sánh'', cả hai quốc gia có thể thu được thặng dư nếu Hoa Kỳ chuyên môn hóa trong sản xuất lúa mỳ và xuất khẩu một phần lúa mỳ để nhập khẩu vải của Anh, còn Anh chuyên môn hoá trong sản xuất và xuất khẩu vải.
*Gia thuyết cho rằng: Trong mô hình chỉ có hai quốc gia, hai hàng hóa, nếu một quốc gia có lợi thế so sánh trong hàng hóa này thì quốc gia kia sẽ có lợi thế so sánh trong hàng hóa thứ hai.
 
====[[Cán cân thương mại|Thặng dư từ thương mại]]====
{| class="wikitable"
|+
!Sản xuất
![[Hoa Kỳ]]
![[Anh]]
|-
!Lúa mỳ (dạ/giờ lao động)
|6
|1
|-
!Vải (thước/giờ lao động)
|4
|2
|}
 
*[[Hoa Kỳ]] sẽ không cải thiện được mức sống nếu họ đổi 6 dạ lúa mỳ lấy 4 thước vải tại Anh, vì tương quan trao đổi này đúng bằng tương quan trong quốc gia Hoa Kỳ. Tất nhiên Hoa Kỳ cũng sẽ không trao đổi với Anh nếu chấp nhận được ít hơn 4 thước vải.
19

lần sửa đổi