Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Việt Nam quốc sử khảo”

không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
 
==Giới thiệu văn bản==
'''Việt Nam quốc sử khảo''' được [[Phan Bội Châu]] viết bằng [[chữ Hán]], chia thành 10 chương; khởi thảo ở khoảng năm 1906 và hoàn thành ngày mồng 5 tháng 5 năm Kỷ Dậu (1909, ghi theo tác giả) tại Nhật Bản. Ngay sau đó, tác phẩm được ra mắt lần đầu tại nơi đó, do nhà xuất bản Shoransha-Tokuo ấn hành, có kèm lời tựa của [[Hoàng Trọng Mậu]], một đồng chí của tác giả.
 
Hiện nay (1982), theo PGS. Chương Thâu, vẫn chưa tìm được bản in đầu tiên, mà chỉ tồn tại hai bản chép tay được sao lại từ bản gốc trên.
*Bản thứ hai, hiện nằm trong tủ sách của một gia đình ở [[Huế]], dày 166 trang, so với bản trên, không có gì khác biệt nhiều.
 
Trong những năm cuối đời (1926-1940), khi bị giam lỏng ở Bến Ngự (Huế); Phan Bội Châu đã đem tác phẩm này dịch ra tiếng Việt theo thể văn vần [[thơ song thất lục bát|song thất lục bát]], và đặt tên là ''[[Việt Nam quốc sử bình diễn ca]]''. Năm 1929, ông có cho trích đăng trên ''báo Tiếng dân'' của [[Huỳnh Thúc Kháng]] được một kỳ; nhưng sau đó, bị [[đế quốc thực dân Pháp|thực dân Pháp]] không cho đăng tiếp, nên toàn bộ tác phẩm này chưa được công bố.<ref>Sau nhiều năm lưu lạc, ''Việt Nam Quốc sử bình diễn ca'' đã được tìm thấy. </ref>
 
Năm 1962, ''Việt Nam quốc sử khảo'', bản dịch của Chương Thâu, được nhà xuất bản Giáo dục (Hà Nội) ấn hành.
:''-[[Mạc Đăng Dung]] cắt hai châu và bốn động (nay là hai châu Thanh và châu Khâm).
:''-[[Lê Hiển Tông|Lê Cảnh Hưng]] năm 41, cắt đất sáu châu ở An Tây, Hưng Hóa (Quảng Lăng, Khiêm Châu, Hoàng Nham, Tuy Phủ, Hợp Phì, Lệ Tuyền) nhập vào đất [[Vân Nam]] ([[nhà Thanh]]).
:''-Bản triều [[Tự Đức]] năm 15 (1862), sai [[Phan Thanh Giản]] phụng sứ tới [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]] cắt sáu tỉnh [[Nam Kỳ]] nhượng cho [[Pháp|Đại Pháp]].''
 
:''-Năm Tự Đức 36 (1883), ký hòa ước hòa thân Pháp - Việt (tức Hiệp ước Hácmăng) mất hết [[Bắc Kỳ]], chủ quyền cũng hết.