Khác biệt giữa các bản “Pháp thuộc”

n
Đã lùi lại sửa đổi của Nguyenquocda (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của 14.188.70.223
n (Đã lùi lại sửa đổi của Nguyenquocda (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của 14.188.70.223)
Thẻ: Lùi tất cả
Tại mỗi tỉnh Trung Kì có Công sứ người Pháp để nắm bắt các vấn đề về thương chính và công chính trong tỉnh. Đối với tỉnh quan trọng hoặc địa bàn rộng có thêm chức Phó Công sứ và đặt thêm một trung tâm hành chính hoặc Sở Đại lí. Ở mỗi tỉnh có một Tòa Công sứ và Hội đồng hàng tỉnh phụ tá cho Công sứ. Đứng đầu thành phố Đà Nẵng là Đốc lí. Phụ tá cho Đốc lí có Ủy ban thành phố. Đứng đầu các thành phố nhỏ hơn là viên Công sứ - Đốc lí, bên cạnh đó là Ủy ban thành phố do Công sứ - Đốc lí làm Chủ tịch.<ref name="dohoanganh"/>
 
Tại Bắc Kì và Trung Kì, người Pháp thực hiện chính sách “cải lương hương chính” để can thiệp vào tổ chức quản lí cấp xã nhằm xóa bỏ sự tự trị và dân chủ kéo dài hàng ngàn năm của cộng đồng làng xã ở Việt Nam và thay thế tầng lớp Nho sĩ lãnh đạo làng xã, được dân chúng bầu chọn nhờ đạo đức và học vấn, bằng tầng lớp địa chủ có thế lực, địa vị nhờ tài sản. Bằng những cải cách hệ thống chính quyền làng xã, người Pháp muốn kiểm soát dân chúng chặt chẽ hơn, ngăn ngừa những cuộc nổi loạn do giới Nho sĩ lãnh đạo và tạo ra một tầng lớp lãnh đạo địa phương dễ sai bảo. Tổ chức hành chính cấp xã dưới thời Pháp thuộc phải chịu sự giám sát và kiểm soát của chính quyền cấp tỉnh về nhân sự cũng như mọi hoạt động của xã. Lý trưởng, xã trưởng là người trung gian giữa dân chúng trong làng, xã và chính quyền cấp tỉnh. Bên cạnh Lý trưởng còn có các tổ chức như Hội đồng kì mục, Hội đồng Tộc biểu, Hội đồng Đại Kì mục và các ủy ban thường trực.<ref name="dohoanganh"/> Những cải cách của người Pháp dẫn đến tệ mua quan bán chức ở địa phương và nạn tham nhũng, cường hào ác bá phát triển không kiểm soát được. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vô tổ chức và tan rã của xã hội Việt Nam mà Ngô Đình Nhu từng đề cập đến.
 
====Nam Kỳ====
Nam Kì được chia thành 20 tỉnh và 2 thành phố lớn là Sài Gòn và Chợ Lớn. Đứng đầu Sài Gòn và Chợ Lớn là Đốc lí và Phó Đốc lí. Đứng đầu tỉnh là viên chức người Pháp. Mỗi tỉnh có một Sở Tham biện, Hội đồng hàng tỉnh phụ tá cho chủ tỉnh. Ở Nam Kì không tồn tại hệ thống chính quyền cấp tỉnh của người Việt do đó người Pháp quản lí và điều hành trực tiếp bộ máy hành chính. Tại một số tỉnh, có các trung tâm hành chính hoặc Sở Đại lí.<ref name="dohoanganh"/>
 
Tại Nam Kỳ, người Pháp cũng cải cách hệ thống chính quyền cấp làng xã nhằm xóa bỏ sự tự trị và dân chủ ở cấp làng xã. Đứng đầu mỗi làng là Lí trưởng, đứng đầu xã là Xã trưởng. Bên cạnh Lý trưởng còn có các tổ chức như Hội đồng kì mục, Hội đồng Tộc biểu, Hội đồng Đại Kì mục và các ủy ban thường trực.<ref name="dohoanganh"/> Mục tiêu của người Pháp ở Nam Kỳ cũng tương tự như Bắc Kỳ và Trung Kỳ là muốn kiểm soát dân chúng chặt chẽ hơn, ngăn ngừa những cuộc nổi loạn do giới Nho sĩ lãnh đạo và tạo ra một tầng lớp lãnh đạo địa phương dễ sai bảo nhưng đồng thời người Pháp cũng tạo ra tình trạng tham nhũng, mua quan bán chức ở các địa phương.
 
===Các khuynh hướng chính trị===
Đến năm 1945, toàn Đông Dương chỉ có [[Viện Đại học Đông Dương]] bao gồm 10 trường thành viên: Cao đẳng Y khoa, Cao đẳng Nông nghiệp, Cao đẳng Thú y, Cao đẳng Công chính, Cao đẳng Địa chính, Cao đẳng Luật khoa, Cao đẳng Khoa học, Cao đẳng Mỹ thuật...<ref>[http://100years.vnu.edu.vn/BTDHQGHN/Vietnamese/C1787/2006/03/N7403/ Sự ra đời của Đại học Đông Dương qua tài liệu lưu trữ], Đào Thị Diến, Website Đại học Quốc gia Hà Nội.</ref><ref>[http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=3511&CategoryID=6 Từ Đại học Đông Dương đến Đại học Quốc gia Hà Nội], Đinh Xuân Lâm, Tạp chí Tia sáng, 04/10/2010.</ref><ref>[http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/dai-hoc-dong-duong-su-doan-tuyet-voi-qua-khu-1 Đại học Đông Dương - Sự đoạn tuyệt với quá khứ?], Trần Thị Phương Hoa, 20 Tháng 4 2013, Tạp chí văn hóa Nghệ An.</ref>. Viện đại học Đông Dương chỉ đào tạo bậc đại học. Nếu sinh viên muốn học sau đại học thì phải sang Pháp. Năm học 1944-1945, cả Viện này có 1.575 sinh viên<ref>Pierre Brocheur và Daniel Hémery. Indochina, An Ambiguous Colonization, 1858-1954. Berkeley, CA: University of California Press, 2009, tr. 217-49.</ref> (so với tổng dân số Việt Nam khi đó là 23 triệu). Phần lớn học sinh và sinh viên đại học, cao đẳng đều là con em các gia đình giàu có hoặc có địa vị nhất định trong xã hội lúc bấy giờ. Các gia đình nông dân, nhân dân lao động nghèo rất ít có khả năng cho con em theo học.
 
Về giáo dục tiểu học, trung bình một tỉnh chỉ có khoảng từ 2 đến 4 trường [[Tiểu học]], mỗi trường có từ trên 100 đến vài trăm học sinh. Các thành phố lớn mới có trường Cao đẳng Tiểu học như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Lạng Sơn (Bắc Kì), Thanh Hóa, Nghệ An (Vinh), Huế, Quy Nhơn (Trung Kỳ), Sài Gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho (Nam Kỳ). Bậc Trung học (bậc Tú Tài) chỉ có ở Hà Nội (trường Bưởi, trường Albert Sarraut), Huế (trường Khải Định), Sài Gòn (trường Pétrus Ký, trường Chasseloup Laubat), mỗi trường có khoảng từ 100 đến 200 học sinh.<ref>[http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=278&Itemid=49 THI CỬ VÀ NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC], Trần Bích San, Tạp chí Cỏ Thơm.</ref>
 
Chính sách giáo dục của chính quyền Pháp nhằm dụng ý là để chuyển hướng tư duy của đại chúng, xóa bỏ những ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, truyền bá văn minh Pháp nhằm đồng hóa người Việt; đồng thời đào tạo ra một tầng lớp công chức và chuyên viên phục vụ cho nền cai trị và công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp. Mối đe dọa đáng sợ cho chính quyền thực dân Pháp là [[Nho giáo]] qua các sách vở Hán văn, bởi Nho giáo cổ vũ lòng yêu nước chống ngoại xâm và khuyến khích giới trí thức quan tâm đến các vấn đề chính trị<ref>Cooper, Nicola. Trang 36.</ref>. Hơn nữa người Pháp rất khó chịu trước giới sĩ phu Nho học không ngừng đả kích chế độ thực dân, kích động sự bất mãn của dân chúng thậm chí lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Vì vậy ngườiNgười Pháp đã dồn nhiều nỗ lực vào việc cải biến nền giáo dục bản xứ: loại bỏ Nho học và cấm giảng dạy [[lịch sử]] Việt Nam, thay vào đó là các kiến thức khoa học phương Tây, văn chương và [[lịch sử Pháp]]. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính được dùng trong trường học còn tiếng Việt và tiếng Hán chỉ là ngoại ngữ. Một chứng cứ khác là sách giáo khoa thời Pháp thuộc không dùng danh từ "Việt Nam" mà chỉ nhắc đến "Đông Pháp" và các xứ lệ thuộc. Các kỳ thi [[khoa bảng Việt Nam]] cũng bị loại bỏ, thay vào đó là các kì thi bằng tiếng Việt và tiếng Pháp phỏng theo các kì thi của Pháp.
 
Giáo dục thời Pháp thuộc để lại nhiều mặt tiêu cực với Việt Nam. Năm 1905, [[Phan Bội Châu]] cho rằng nền giáo dục của Pháp ''"chỉ dạy viết văn Pháp, nói tiếng Pháp, tạm thời làm nô lệ cho Pháp"''. Học giả Trần Trọng Kim cho rằng nền giáo dục Pháp đã biến một xã hội ''"nghe đến nước mình thì ngây ngây như người ngoại quốc, sử nước mình không biết, tiếng nói nước mình thì chỉ biết qua loa"''. Cho đến năm 1930, tổng số học sinh, sinh viên tất cả các trường từ tiểu học đến đại học chỉ chiếm 1,8% dân số Việt Nam. Do số người được đi học thấp, kết quả là tới năm 1945, trên 95% dân số Việt Nam bị [[mù chữ]]. Một nền giáo dục như vậy khiến người Việt bị tách rời khỏi cội rễ văn hóa dân tộc trong khi không hiểu biết đến nơi đến chốn, không hấp thu được phần tinh túy của văn hóa phương Tây. Người Việt bị biến thành những kẻ vong bản và vong nô trên chính quê hương của mình.
Nạn [[mại dâm]] cũng được thực dân Pháp hợp thức công khai và trở nên phổ biến ở các thành phố lớn. Vào những năm 1930, vấn đề mại dâm ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề nhức nhối trong xã hội. Các báo đã mô tả tình trạng "''lúc nhúc xóm bình khang, đầy rẫy phường bán phấn''" trong các đô thị Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Một biến tướng khác của mại dâm là ''"[[ca trù|hát cô đầu]]"'' đã trở thành ''"một cái ung nhọt"'' của xã hội. Báo Công luận viết ''"Nếu đi qua các ngõ Sầm Công ở [[Hà Nội]], phố Hạ Lý [[Hải Phòng]], phố Bến Củi [[Nam Định]]... ta sẽ thấy một cảnh tượng đau lòng, một sự dâm ô đê tiện hơn hết trong sự mãi dâm, chắc không có nước nào mà mãi dâm lại đê tiện hơn mãi dâm ở nước ta: Họ ra tận đường phố lôi kéo khách hàng, họ nói những câu, hát những giọng khiêu dâm tục tằn..."''<ref>Báo Công luận, 7-3-1932.</ref> [[Nguyễn Doãn Vượng]] đã nhận xét ''"hầu hết những kẻ đi hát đều là thanh niên... do đó sự kém sút về sức khỏe, sự trụy lạc về tinh thần, những [[bệnh hoa liễu]] cũng từ đó mà về thăm gia đình và vợ con những thanh niên đó; lại còn bao nhiêu kẻ trong cơn mê muội đớn hèn lỗi đạo vì đi hát, ăn trộm, ăn cắp vì mê hát và khuynh gia bại sản vì những cô đầu hát"''<ref>Báo Trung văn chủ nhật, 27-9-1942.</ref>.
 
Pháp tuyên bố "bảo hộ An Nam" để giúp nước này "[[khai hóa văn minh]]". Nhưng thực tế, các đề nghị nâng cao [[dân trí]], cải tổ toàn diện chính trị - xã hội, cải cách và phát triển giáo dục, cũng như hướng đến nền chính trị [[dân chủ]] của các trí thức đương thời đều bị Pháp thờ ơ. Tiêu biểu là [[Phong trào Duy Tân]] do [[Phan Châu Trinh]] ([[1872]] - [[1926]]) phát động năm [[1906]] cho đến năm [[1908]] thì kết thúc sau khi bị [[đế quốc thực dân Pháp|thực dân Pháp]] đàn áp. Một số lãnh đạo phong trào bị kết án [[tử hình]] do có liên quan đến [[phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ (1908)]], những người khác bị đày đi [[Côn Đảo]] trong số đó có [[Phan Châu Trinh]].<ref>Năm [[1911]], chính quyền thực dân đưa Phan Châu Trinh sang [[Pháp]]. Suốt những năm ở [[Paris]], ông vẫn luôn theo đường lối cải cách, kêu gọi thực hiện dân quyền, cải cách dân sinh (theo Phan Ngọc Liên, sách đã dẫn, tr. 270).</ref> [[Nguyễn An Ninh]] nhận xét về công cuộc khai hóa của Pháp ở Việt Nam: "''Nền văn hóa Trung Hoa trên nước ta đang suy và thế hệ chúng ta đang chìm đắm trong vòng ngu dốt... chỉ trong một thời gian hết sức ngắn người ta đã đưa trình độ kiến thức vốn đã suy thoái tệ hại của một dân tộc tuột xuống tận cùng của sự dốt nát, tối tăm dày đặc... đã đưa một dân tộc vốn có tư tưởng dân chủ, vào cảnh nô lệ tối tăm trong một khoảng thời gian rất ngắn''<ref name="nguyenanninh">Lý tưởng thanh niên An Nam (1923), Nguyễn An Ninh.</ref>".
 
===Y tế===
===Văn hóa và giáo dục===
[[Tập tin:1938 Vietnamese Birth Certificate in Nôm.jpg|nhỏ|phải|[[Giấy khai sinh]] của tỉnh [[Bắc Ninh]] thời Pháp thuộc tại Bắc Kỳ năm 1938 có 4 dạng chữ: chữ Quốc ngữ, chữ Nôm, chữ Nho, và chữ Pháp]]
Ngôn ngữ người Việt cũng bị tác động, quan trọng nhất là việc tiếp nhận [[chữ Quốc ngữ]] làm văn tự chính thức của người Việt. Quyết định của triều Nguyễn hủy bỏ toàn phần phép [[khoa cử]] có từ thời [[nhà Lý]] khiến [[chữ Hán|chữ Nho]] không còn là ngôn ngữ học thuật chính thống. Việc sử dụng chữ Quốc ngữ làm văn tự chính thức bên cạnh chữ Hán tạo điều kiện cho [[văn học]], [[báo chí]] viết bằng [[chữ Quốc ngữ]] phát triển, việc truyền bá tri thức, văn hóa trở nên dễ dàng hơn. Chữ Quốc ngữ dễ học hơn chữ Hán nên có thể dùng chữ Quốc ngữ xóa mù chữ nhanh chóng. Tuy nhiên, việc chữ Hán từ địa vị là ngôn ngữ học thuật chính thống trở thành một ngoại ngữ không quan trọng khiến đa số người Việt không còn khả năng đọc hiểu các tài liệu chữ Hán của tiền nhân. Hậu quả là người Việt bị tách ra khỏi di sản văn học, sử học, khoa học, tư tưởng của dân tộc viết bằng chữ Hán tích lũy được trong 10 thế kỷ<ref>[http://baotangnhanhoc.org/vi/bai-nghien-cu-lch-s/1231-tng-quan-tai-liu-nho-giao-va-nho-hc--vin-han-nom-.html TỔNG QUAN TÀI LIỆU NHO GIÁO VÀ NHO HỌC Ở VIỆN HÁN NÔM], Nguyễn Xuân Diện, Bài tham luận Hội thảo về Nho giáo Việt Nam. Đã in trên Tạp chí Hán Nôm số 1 (68), 2005</ref><ref name="Giang"/>. Việc thay đổi nội dung giáo dục, bãi bỏ phép khoa cử truyền thống lấy [[Nho giáo]] làm trọng tâm khiến Nho giáo mất dần ảnh hưởng lên đời sống xã hội và chìm vào quên lãng. Điều này khiến xã hội tan rã do không được định hướng bởi một hệ thống giá trị chung, không còn tín hiệu tập hợp; [[đạo đức]] xã hội suy đồi và các giá trị văn hóa truyền thống bị thui chột.
 
Pháp ngữ trở thành ngôn ngữ chính thức trong hệ thống giáo dục và trong hoạt động hành chính. Các tư tưởng phương Tây như tự do, dân chủ, nhân quyền, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản... thông qua sách báo và hệ thống giáo dục thuộc địa được phổ biến.
14.944

lần sửa đổi