Khác biệt giữa các bản “Trương Thị Thận”

Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
Thẻ: Trình soạn thảo mã nguồn 2017
| tên = Tam giai Thụy tần
| tên gốc = 三階瑞嬪
| tước vị = [[ThiệuHậu Trịcung nhà Nguyễn|ThiệuPhi Trịtần Đế]]nhà [[Cung tần|tầnNguyễn]]
| hình =
| cỡ hình =
| cha = Trương Văn Minh
| mẹ = Vũ Thị Tông
| con cái = Hoàng nữ Ủy Thanh<br>Phong Lộc Quận công [[Nguyễn Phúc Hồng Kháng|Hồng Kháng]]<br>Hoàng nữ Liêu Diệu<br>Hoàng nữ Nhàn Nhã<br>Lạc Thành Công chúa [[Nguyễn Phúc Nhàn Đức|Nhàn Đức]]<br>Phế đế [[Hiệp Hòa|Hiệp Hòa Đế]]
| nơi an táng = Thị xã [[Hương Trà]], [[Thừa Thiên - Huế]]
}}
Năm [[1841]], Trường Khánh công Miên Tông đăng cơ, tức vua [[Thiệu Trị]]. Bà Trương Thị Thận cùng các bà Phủ thiếp khác của vua đều được gọi chung là ''Cung tần'' (宮嬪), chờ mãn tang vua [[Minh Mạng]] mới định thứ bậc.
 
Năm Thiệu Trị thứ 3 ([[1843]]), bà Thận được sách phong làm '''Tứ giai Huy tần''' (四階徽嬪)<ref name=":0" />. Hàng Tứ giai khi đó bao gồm những phong hiệu từ cao đến thấp như sau: ''Huy tần'' (徽嬪), ''Ý tần'' (懿嬪), ''Nhu tần'' (柔嬪). Chức ''Ý tần'' được ban cho bà [[Nguyễn Thị Huyên]] giữ chức ''Ý tần'', còn chức ''Nhu tần'' đượcthì ban chodo bà [[Nguyễn Thị Yên]] tại vị.
 
Năm Thiệu Trị thứ 6 ([[1846]]), Huy tần Trương thị được tấn làm '''Tam giai Thụy tần''' (三階瑞嬪)<ref name=":0" />.
 
=== Tôn phong Hoàng thái phi ===
Năm [[Tự Đức]] thứ 36 ([[1883]]), vua [[Tự Đức]] băng hà, vua [[Dục Đức]] mới lên ngôi 3 ngày đã bị hai quyền thần là [[Nguyễn Văn Tường]] và [[Tôn Thất Thuyết]] phế truất. Con trai của bà Thụy tần Trương thị là ''Lãng Quốc công'' [[Nguyễn Phúc Hồng Dật|Hồng Dật]] được đưa lên làm Hoàng đế, tức vua [[Hiệp HoàHòa]].
 
Tháng 7 (âm lịch) năm đó, bà Thụy tần được tôn phong làm [[Hoàng thái phi]], ngày sinh nhật của bà được gọi là ''Trường Xuân tiết''<ref>''Đại Nam thực lục'', tập 8, tr.587</ref>. BốnTháng tháng9 sau(âm lịch), vua [[Hiệp HoàHòa]] bịcho [[Tônđón ThấtThái Thuyết]]phi phếTrương truấtthị vào bức tửcung Khôn Thái<ref name=":1">''Đại Nam thực lục'', tập 8, tr.601</ref>. HoàngVua tháisai phingười cũngdâng bịlên giángcho trởmẹ lại50 làmlạng ''Thụyvàng; tần''100 đĩnh bạc (mỗi đĩnh, saucòn nàygọi trong [[Đạithoi, nặng 10 lạng); 100 tấm gấm lụa màu hàng Nam, liệthàng truyện]]Bắc chépcác lạithứ; thànhlụa '''Đoanmàu tần'''vải (端嬪)màu cùng lụa thổ 300 tấm; tiền đồng 3000 quan; tiền kẽm 2000 quan<ref name=":1" />.
 
Vua giao cho [[bộ Hộ]] và [[bộ Lễ]] bàn định việc chi tiền gạo cho Hoàng thái phi và [[Võ Thị Duyên|Khiêm Hoàng hậu]] Võ thị (chánh cung của vua [[Tự Đức]], tức chị dâu của vua [[Hiệp Hòa]]) theo thứ bậc khác nhau. Hai bộ bàn xong, theo lệ định, [[Tết Nguyên Đán]] dâng Hoàng thái phi 6 lạng vàng, 6000 quan tiền, 1000 phương gạo; dâng Khiêm Hoàng hậu 4 lạng vàng, 4000 quan tiền, 800 phương gạo<ref>''Đại Nam thực lục'', tập 8, tr.603</ref>.
 
Tuy nhiên, tháng 10 (âm lịch) năm đó, vua [[Hiệp Hòa]] bị hai quyền thần là [[Nguyễn Văn Tường]] và [[Tôn Thất Thuyết]] phế truất và bức tử. Hoàng thái phi Trương thị cũng bị giáng trở lại làm ''Thụy tần'', sau này [[Đại Nam liệt truyện]] chép lại phong hiệu của bà thành '''Đoan tần''' (端嬪).
 
Ngày 1 tháng 12 (âm lịch) năm [[Mậu Tí]] (năm Dương lịch là [[1889]]), dưới triều vua [[Đồng Khánh]], Đoan tần Trương thị qua đời, thọ 72 tuổi<ref name=":0" />. Bà được táng tại làng Dương Xuân Hạ, huyện Hương Thủy (cũ), tỉnh [[Thừa Thiên]]. Năm [[1917]], dưới triều vua [[Khải Định]], tẩm mộ của bà Thụy tần được cải táng về thôn Long Khê, thị xã [[Hương Trà]], tỉnh [[Thừa Thiên - Huế]]<ref name=":0" />.
 
== Hậu duệ ==
Thụy tần Trương Thị Thận và Lương phi [[Võ Thị Viên]] là hai người phũ nữ hạ sinh được nhiều con nhất trong hậu cung của vua [[Thiệu Trị]]. Nhưng cũng như bà Lương phi, chỉ có 3 người con của bà Thận là còn sống qua tuổi trưởng thành.
 
# Hoàng nữ Ủy Thanh ([[1835]] – [[1837]]), chết yểu. Thờ tại Lệ Thục từ.
# ''Phong Lộc Quận công'' [[Nguyễn Phúc Hồng Kháng|Hồng Kháng]] ([[5 tháng 5]] năm [[1837]] – [[19 tháng 2]] năm [[1865]]). Mất sớm không có con nối dõi, lấy công tử Ưng Hiệp, con của người em trai là [[Nguyễn Phúc Hồng Dật|Hồng Dật]] qua kế tập phòng Phong Lộc.
# Hoàng nữ Liêu Diệu ([[1838]]), chết non. Thờ tại Lệ Thục từ.
# Hoàng nữ Nhàn Nhã ([[1839]] – [[1840]]), chết yểu. Thờ tại Lệ Thục từ.
# ''Lạc Thành Công chúa'' [[Nguyễn Phúc Nhàn Đức|Nhàn Đức]] (? – sau năm [[1899]]<ref>Theo tấm bia dựng ở [[chùa Từ Hiếu]] vào năm [[Thành Thái]] thứ 11 ([[1899]]), công chúa Lạc Thành vẫn còn quyên tiền vào việc sửa chùa. Xem [http://tapchincpt.huecit.com/Portals/0/Attachs/Nam2019/T3/Chua%20Tu%20Hieu.pdf Chùa Từ Hiếu].</ref>), không rõ hôn sự.
# '''Phế đế [[Hiệp Hòa|Hiệp Hòa Phế đế]]''' Hồng Dật ([[1 tháng 11]] năm [[1847]] – [[29 tháng 11]] năm [[1883]]), sau bị quyền thần phế truất và bức tử. Vua [[Thành Thái]] truy tặng cho ông làm '''Văn Lãng Quận vương''' (文朗郡王).
 
== Trong văn hoá đại chúng ==