Khác biệt giữa các bản “Biên tập phim”

(Tạo với bản dịch của trang “Film editing”)
 
James Williamson tập trung vào việc làm những bộ phim hành động từ một nơi được chiếu trong một cảnh này đến cảnh tiếp theo được thể hiện trong một cảnh quay khác trong các bộ phim như ''Stop Thief!'' và ''Fire!'', được thực hiện vào năm 1901, và nhiều người khác. Ông cũng đã thử nghiệm cận cảnh, và có lẽ là người cực đoan nhất trong ''The Big Swallow'', khi nhân vật của anh ta tiếp cận máy ảnh và có vẻ như đã nuốt nó. Hai nhà làm phim của Trường Brighton cũng tiên phong trong việc chỉnh sửa bộ phim; họ pha màu cho tác phẩm của mình bằng màu sắc và sử dụng kỹ xảo nhiếp ảnh để tăng cường khả năng kể chuyện. Đến năm 1900, các bộ phim của họ là những cảnh kéo dài tới 5 phút. <ref>{{Chú thích web|url=http://www.bampfa.berkeley.edu/film/FN0552|tựa đề=The Brighton School|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20131224113027/http://www.bampfa.berkeley.edu/film/FN0552|ngày lưu trữ=2013-12-24|ngày truy cập=2012-12-17}}</ref>
 
[[Tập tin:The_Great_Train_Robbery_0018.jpg|phải|nhỏ|250x250px| Cảnh trong ''The Great Train Robbery'' (1903), do [[Edwin S. Porter|Edwin Stanton Porter]] đạo diễn ]]
Các nhà làm phim khác sau đó đã tiếp nhận tất cả những ý tưởng này, bao gồm [[Edwin S. Porter]] người Mỹ, người bắt đầu làm phim cho Công ty Edison vào năm 1901. Porter đã làm việc trên một số bộ phim nhỏ trước khi thực hiện ''Life of a American Fireman'' vào năm 1903. Bộ phim là bộ phim đầu tiên của Mỹ có cốt truyện, có hành động, và thậm chí là một cảnh quay tay kéo chuông báo cháy. Bộ phim bao gồm một câu chuyện liên tục trong bảy cảnh, được thực hiện trong tổng số chín lần quay. <ref name="musser">Originally in ''Edison Films'' catalog, February 1903, 2–3; reproduced in Charles Musser, ''Before the Nickelodeon: Edwin S. Porter and the Edison Manufacturing Company'' (Berkeley: University of California Press, 1991), 216–18.</ref> Ông đặt chuyển cảnh nhòe dần giữa mọi lần quay, giống như [[Georges Méliès]] đã làm, và ông cũng thường xuyên có hành động tương tự lặp đi lặp lại trên các lần nhòe chuyển cảnh. Bộ phim của ông, ''The Great Train Robbery'' (1903), có thời gian chạy mười hai phút, với hai mươi cảnh riêng biệt và mười địa điểm trong nhà và ngoài trời khác nhau. Ông đã sử dụng phương pháp chỉnh sửa cắt xuyên suốt để thể hiện hành động đồng thời ở những nơi khác nhau.
 
Những đạo diễn phim đầu tiên này đã phát hiện ra các khía cạnh quan trọng của ngôn ngữ hình ảnh chuyển động: rằng hình ảnh màn hình không cần hiển thị một người hoàn chỉnh từ đầu đến chân và việc ghép hai bức ảnh lại với nhau tạo ra trong tâm trí người xem một mối quan hệ theo ngữ cảnh. Đây là những khám phá quan trọng khiến cho tất cả các hình ảnh chuyển động kể chuyện không phải trực tiếp hoặc không trực tiếp trên truyền hình và truyền hình đều có thể chụp được (trong trường hợp này, toàn bộ cảnh vì mỗi cảnh quay là một cảnh hoàn chỉnh) có thể được chụp ở các địa điểm khác nhau một khoảng thời gian (giờ, ngày hoặc thậm chí vài tháng) và kết hợp thành một tổng thể tường thuật. <ref>[[Arthur Knight (film critic)|Arthur Knight]] (1957). p. 25.</ref> ''The Great Train Robbery'' chứa các cảnh quay trên các trạm điện báo, nội thất xe lửa và vũ trường, với các cảnh ngoài trời tại một tháp nước đường sắt, trên chính con tàu, tại một điểm dọc theo đường ray và trong rừng. Nhưng khi những tên cướp rời khỏi (các bộ) bên trong trạm điện báo và nổi lên tại tháp nước, khán giả tin rằng chúng đã đi ngay lập tức từ cảnh này sang cảnh khác. Hoặc rằng khi họ leo lên tàu trong một cảnh và vào toa hành lý trong cảnh tiếp theo, khán giả tin rằng họ đang ở trên cùng một chuyến tàu.
[[Thể loại:Bài viết có chứa video clip]]
[[Thể loại:Kỹ thuật phim ảnh]]