Khác biệt giữa các bản “Mai Hắc Đế”

không có tóm lược sửa đổi
Khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo nổ ra vào năm Khai Nguyên thứ nhất đời vua [[Đường Huyền Tông]] ở [[Tên gọi Trung Quốc|Trung Hoa]], tức năm [[Quý Sửu]] ([[713]]). Khởi nghĩa nổ ra tại [[Rú Đụn]], còn gọi là [[Hùng Sơn]] ([[Nghệ An]]). Tương truyền lúc đó ông cùng đoàn phu gánh vải nộp cho [[nhà Đường]], đã kêu gọi các phu gánh vải nổi dậy chống quân Đường. Tuy nhiên, hiện nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất: sưu cao, thuế nặng là nguyên nhân khiến nhân dân nổi dậy chống lại ách đô hộ nhà Đường, nổi bật là khởi nghĩa Hoan Châu. Đây là cuộc khởi nghĩa có sự chuẩn bị, biết chọn thời cơ, không phải một cuộc bạo động. Chuyện "cống vải" là một chi tiết của truyền thuyết, không thể và không phải là nguyên nhân chính nổ ra cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc do Mai Thúc Loan lãnh đạo.
 
Tháng 4 năm 713, Mai Thúc Loan lên ngôi vua, sử gọi ông là Mai Hắc Đế. Theo ''Việt điện u linh'', Mai Hắc Đế mang mệnh thủy tức là nước, mà nước được tượng trưng là màu đen. Vì vậy, ông lấy hiệu là Hắc Đế để hợp với mệnh của mình. Một số nguồn cũng cho hay, ông lấy hiệu là Mai Hắc Đế vì ông có màu da đen. Ông cho xây thành lũy, lập kinh đô [[Vạn An]] (thuộc thị trấn [[Nam Đàn (thị trấn)|Nam Đàn]] hiện nay), tích cực rèn tập tướng sỹ. Cuộc nổi dậy của ông được hưởng ứng rộng rãi ở trong nước và có cả sự liên kết với [[Lâm Ấp]] và [[Chân Lạp]].<ref>Đại Việt Sử ký Ngoại kỷ Toàn thư, Quyển V, Kỷ thuộc Tùy Đường.</ref>
 
Theo sách ''An Nam chí lược'': ''Sơ niên hiệu Khai Nguyên (713-714), của Huyền Tông, Soái trưởng Giao Châu là Mai Thúc Loan làm phản, hiệu xưng là Hắc Đế, ngoài thì kết giao với quân của Lâm Ấp và Chân Lạp, tập họp được 30 vạn quân sĩ, chiếm cứ nước An-nam. Vua Huyền Tông ra lời chiếu sai quan Tả Giam môn Vệ tướng quân là Dương Tư Miễn và quan Đô hộ là Nguyên Sở Khách qua đánh, cứ noi theo con đường cũ của Mã-Viện đi tới phá quân của Loan, thâu những xác chết đắp thành gò lớn, rồi kéo về.''<ref>An Nam chí lược; Soạn giả Lê Tắc; Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, 1960; Nhà Xuất bản: Viện Đại học Huế 1961; Quyển Đệ tứ.</ref>