Khác biệt giữa các bản “Lê Thái Tổ”

(→‎Nhà nước và chính trị: Sửa lỗi chính tả)
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
*Cuộc khởi nghĩa của cả hai vị vua đều gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian đầu tiên, phải thường xuyên lẩn trốn sự truy kích của kẻ thù, thậm chí có những lúc rơi vào tính thế hiểm nghèo. Đây cũng là tình hình chung của rất nhiều cuộc khởi nghĩa.<ref>[[Trần Trọng Kim]], sách đã dẫn, tr. 223.</ref><ref>Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr. 167.</ref><ref>Thương Thánh, sách đã dẫn, tr. 39.</ref><ref>[[Lê Quý Đôn]], sách đã dẫn, tr. 36.</ref>
* Cả hai vị vua đều thoát chết nhờ thuộc hạ tình nguyện hy sinh cứu chủ. Khi bị [[Hạng Vũ]] vây ở Huỳnh Dương, Lưu Bang đã phải nhờ [[Kỷ Tín]] ra hàng và bị Hạng Vũ giết. Lê Lợi bị quân Minh vây ở [[Chí Linh (núi)|núi Chí Linh]] cũng phải nhờ [[Lê Lai]] theo gương Kỷ Tín để thoát nạn. Lê Lai cũng bị quân Minh giết.<ref name=autogenerated5>[[Tư Mã Thiên]], Sử ký, Cao Tổ bản kỷ.</ref><ref>[[Lê Quý Đôn]], sách đã dẫn, tr. 35.</ref><ref>[[Trần Trọng Kim]], sách đã dẫn, tr. 225.</ref><ref>Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr. 172.</ref>
* Sau khi lên ngôi, hai vị hoàng đế đều giết công thần khai quốc.<ref>Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr. 185.</ref> Lưu Bang cùng Lữ Hậu giết và tru di tam tộc các công thần như [[AnhHàn BốTín]], [[Bành Việt]]; Lê Lợi chỉ giết [[Phạm Văn Xảo]], [[Trần Nguyên Hãn]] tự sát, Lê Lợi cũng không giết con cháu của họ.<ref>Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr. 354.</ref><ref>Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr. 192-193.</ref><ref>Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr. 259.</ref>
*Sau khi qua đời, cả Lê Thái Tổ và Hán Cao Tổ đều được đặt chữ "Cao".<ref>Thương Thánh, sách đã dẫn, tr. 32.</ref> Lưu Bang là (Cao Tổ) Cao Hoàng đế, Lê Lợi là (Thái Tổ) Cao Hoàng đế.<ref>Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr. 47.</ref><ref>[http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/dvsktt15b.html Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 10]</ref><ref>Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 15.</ref> Trong lịch sử [[Trung Quốc]] và [[Việt Nam]] có rất nhiều vị vua được đặt chữ "Cao" chứ không phải chỉ có hai vị này.<ref>[[Nguyễn Hiến Lê]], Sử Trung Quốc, Phụ lục I: Bảng các triều đại.</ref><ref>Nguyễn Khắc Thuần, Thế thứ các triều vua Việt Nam.</ref>
* Về sau, cơ nghiệp của hai vị vua đều bị họ khác cướp ngôi. [[Nhà Hán]] và [[nhà Hậu Lê|nhà Lê]] đều bị gián đoạn một thời gian, nhưng rồi lại phục hồi.<ref>Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr. 275, 295.</ref><ref>Trương Chí Quân, sách đã dẫn, tr. 38.</ref> Nhà Tây Hán bị [[Vương Mãng]] cướp ngôi (lập [[nhà Tân]]), nhưng sau đó được nhà [[Đông Hán]] kế tục. [[Nhà Lê sơ]] bị [[Mạc Đăng Dung]] cướp ngôi (lập [[Nhà Mạc]]), rồi sau đó được [[Nhà Lê trung hưng|Nhà Lê Trung hưng]] kế tục.<ref>Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr. 287.</ref><ref>Viện Sử học, sách đã dẫn, tr. 517.</ref> Tuy nhiên trừ 2 vị vua đầu, các vị vua còn lại của Nhà Lê Trung hưng không phải là hậu duệ trực hệ của Lê Lợi (mà là hậu duệ của Lê Trừ, anh trai Lê Lợi). Các vua Lê trung hưng cũng bị chúa Trịnh khống chế, không có thực quyền như các vua thời Lê sơ.<ref>Đại Việt sử ký toàn thư,bản kỷ thực lục, quyển 6.</ref><ref>Việt Nam sử lược, quyển 2: Tự chủ thời đại, chương 1.</ref>
250

lần sửa đổi