Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Văn Cao”

bổ sung trích dẫn và chỉnh sửa một số diễn đạt
(bổ sung trích dẫn và chỉnh sửa một số diễn đạt)
Thuộc thế hệ [[nhạc sĩ]] tiên phong, Văn Cao tham gia [[nhóm Đồng Vọng]], sáng tác các ca khúc trữ tình lãng mạn như ''[[Bến xuân]]'', ''[[Suối mơ]]'', ''[[Thiên Thai (bài hát)|Thiên Thai]]'', ''[[Trương Chi (bài hát)|Trương Chi]]'',... nhanh chóng trở thành một trong những gương mặt tiên phong, nổi bật nhất của [[:Thể loại:Âm nhạc lãng mạn Việt Nam|trào lưu lãng mạn trong lịch sử âm nhạc Việt Nam]], đặc biệt là để lại những dấu ấn mang tính khai phá của ông trong tân nhạc Việt. Sau khi gia nhập [[Việt Minh]], Văn Cao chủ yếu viết về nhiều ca khúc mang âm hưởng hào hùng như ''[[Tiến quân ca]]'', ''[[Trường ca Sông Lô]]'', ''[[Tiến về Hà Nội]]'',... vì vậy ông đã trở thành một [[nhạc sĩ]] tiêu biểu của dòng [[nhạc đỏ|nhạc kháng chiến]].Sau sự kiện ''[[Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm|Nhân văn – Giai phẩm]]'', Văn Cao phải đi [[Học tập cải tạo|học tập chính trị]]. Trừ ''[[Tiến quân ca]]'', tất cả những [[Bài hát|ca khúc]] của ông cũng giống như các nhạc phẩm tiền chiến khác không được lưu hành ở [[Miền Bắc (Việt Nam)|miền Bắc]]. Đến cuối [[thập niên 1980]], những nhạc phẩm này mới được biểu diễn trở lại.
 
Được nhiều người xem là một hình mẫu thiên tài trong lịch sử văn nghệ Việt Nam,<ref name="PhạmDuy2007"/><ref name="ĐặngAnhĐào2009A"/> tài năng nghệ thuật đa dạng mang tính tổng hợp cao giữa văn chương (thi ca) - âm nhạc - hội họa của Văn Cao đã bộcsớm lộcó những thành tựu đột khởi ngay từ nhữngđộ nămtuổi mới mười tám đôi mươi.<ref>Phạm Duy: "...Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều. (...) Hình như Văn Cao có đi học vẽ còn [[vịTrường thànhCao niênđẳng Mỹ thuật Đông Dương|chưatrường thànhCao niênĐẳng Mỹ Thuật]] như tôi, nhưng chắc chắn anh đã được hoạ sĩ Lưu Văn Sìn dắt vào hội hoạ. Văn Cao vẽ rất giỏi. Tôi giữ được bức tranh tự hoạ của Văn Cao, tranh sơn dầu vẽ trên bìa cứng cho tới ngày Pháp đánh Saigon vào năm 1945 thì mất, tiếc quá! Văn Cao làm thơ cũng rất hay. Vào năm 1941 mà anh đã có những câu thơ nghe như thơ [[Huy Cận]] (...) Chưa gặp Văn Cao nhưng tôi đã biết tài soạn nhạc qua mấy bài nhạc hùng của anh rồi..." (trích dẫn từ hồi ký của nhạc sĩ, nhà nghiên cứu tân nhạc Phạm Duy)</ref> Không được đào tạo một cách thực sự chính quy, chuyên sâu cả về [[âm nhạc]] và [[hội họa]], những thành tựu của Văn Cao trong hai lĩnh vực này có thể nói là bắt nguồn chủ yếu từ thiên năng nghệ thuật sẵn có của ông (nói theo lời của nhà nghiên cứu âm nhạc [[Nguyễn Thụy Kha]] thì "Văn Cao là trời cho"). Ông được nhiều người xem là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử phát triển của [[văn hóa Việt Nam]] – ở nơi "dòng chảy" của sáng tạo cá nhân một con người có sự "hợp lưu" xuyên suốt của ba nhánh nhạc-họa-thơ trong gần như toàn bộ những sáng tác đa dạng của ông. Tổng kết về sự nghiệp văn nghệ của Văn Cao, nhiều người thường nhắc đến ông như một [[nghệ sĩ]] đa tài, thích "lãng du" qua những "địa hạt" (lĩnh vực) nghệ thuật khác nhau. Dù không gắn bó liên tục quá lâu với một địa hạt nào trong số đó nhưng đối với những "miền" nào ông đã bước qua thì Văn Cao cũng đều lưu dấu không ít sáng tạo mang tính khai phá - mở lối dành cho những người đến sau ông. Như nhạc sĩ [[Phạm Duy]] sinh thời đã nhiều lần xác nhận, sự nghiệp sáng tác của ông chịu một ảnh hưởng lớn từ những khai mở (về chuyên môn) và khích lệ (về tinh thần) từ Văn Cao, với tư cách là một người bạn văn nghệ tri kỷ của Phạm Duy. Dù những sáng tác của Văn Cao (đặc biệt là về âm nhạc và thơ ca) nói chung không dồi dào về số lượng nhưng mặt chất lượng chúng có ảnh hưởng mang tính định hướng và đặt nền cho sự phát triển của đời sống văn nghệ Việt Nam hiện đại. Một ví dụ là vai trò đặc biệt quan trọng của ông trong sự định hình của thể loại trường ca [[trường ca (âm nhạc)|trong cả âm nhạc]] [[Những người trên cửa biển|và thơ ca]] Việt Nam thế kỷ 20. Cũng như những đóng góp về thơ ca và hội họa của Văn Cao vì nhiều lý do khác nhau mà ít được nhắc tới hơn rất nhiều so với những thành tựu trong âm nhạc của ông.
 
Là một người tài hoa vào loại bậc nhất trong lịch sử văn nghệ Việt Nam, nhưng ngay từ thời còn niên thiếu ở [[Hải Phòng]] ông đã là một người có thiên hướng khép kín, trầm tư, ít bộc lộ bản thân trước đám đông. Sau biến cố ''[[Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm|Nhân văn – Giai phẩm]]'' cuối [[thập niên 1950]], ông lại càng có xu hướng sống khép kín và cô độc hơn mặc dù luôn có gia đình (đặc biệt là vợ ông) và một số bạn văn nghệ thân quen làm chỗ dựa cho đến những năm cuối đời. Khác với quan niệm truyền thống xưa nay về tài tử và giai nhân, cuộc đời của Văn Cao ít có những tiếp xúc mang tính lãng mạn với phái nữ vì như ông từng bộc bạch trong một cuốn [[Văn Cao - Giấc mơ một đời người|phim tài liệu về mình rằng]], "Tôi là một cái người luôn luôn thất bại về tình yêu, cái thất bại này là bởi vì tôi là người không giỏi về cách tôi giao lưu với những người đàn bà, mà lại đối với những người đẹp tôi lại càng bối rối, tôi không bao giờ nói được với người ta, thì tôi bèn nói trong thơ thôi."
 
Một điều không may mắn là do nhiều lý do (như trách nhiệm của những người lưu giữ và điều kiện bảo quản hạn chế trong nhiều năm chiến tranh ở Việt Nam) mà danh mục các sáng tác trong sự nghiệp hội họa của Văn Cao đã không được liệt kê chi tiết như các tác phẩm âm nhạc và thơ của ông. Bởi vậy nhiều người muốn tìm hiểu về tài năng hội họa của Văn Cao không có mấy điều kiện tiếp xúc trực tiếp với những sáng tạo hội họa của Văn Cao, và hầu như chỉ có thể căn cứ vào những ý kiến phê bình của các bạn văn nghệ đương thời của ông như Tạ Tỵ và [[Thái Bá Vân]].
 
=== Tính dự báo trong những sáng tác của Văn Cao ===
Nhiều người nghiên cứu sâu về Văn Cao (trong đó có bạn vong niên của ông là nhà nghiên cứu âm nhạc [[Nguyễn Thụy Kha]] và con trai trưởng của Văn Cao là họa sĩ Văn Thao) thường nhắc tới khả năng đưa ra những ''tiên tri'' hay dự đoán đến mức chính xác đáng kinh ngạc trong những sáng tác âm nhạc của ông. Nhiều sự kiện đã ''xảy ra'' trong các tác phẩm của Văn Cao trước khi chúng được ghi nhận trong thực tế lịch sử Việt Nam thế kỷ ông đã sống.<ref>[[Nguyễn Thụy Kha]], ''[http://nld.com.vn/van-nghe/van-cao-ong-hoang-am-nhac-20170908223408707.htm VĂN CAO - "Ông hoàng âm nhạc"; Tính dự báo và "Việt hóa" âm nhạc Tây là những đóng góp lớn của Văn Cao]''. (BÁO NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ, 09/09/2017)</ref> Một số tác phẩm điển hình là ''Không quân Việt Nam'' và ''[[Tiến về Hà Nội]]''.<ref>Tân Linh, ''[http://anninhthudo.vn/giai-tri/hat-tien-ve-ha-noi-nho-van-cao/570816.antd Hát Tiến về Hà Nội, nhớ Văn Cao]''. (''Báo An ninh Thủ đô điện tử'', 16/09/2014)</ref>
 
=== Các giọng ca thể hiện thành công ===
* ''...Có người nói thẳng tới cái vô cùng tận của trời xanh; có người nói cái vô cùng tận của trời xanh qua cái rộng của biển. Cũng có người thấy trời xanh vô cùng tận trong bát nước và cũng có người chỉ nói tới một giọt ánh sáng để thấy cái vô cùng tận của trời xanh. Có người cần phải tìm con đường lớn mới thấy dấu xe mà có người tìm thấy dấu xe trong hạt bụi.'' (''Tuyển tập thơ'', Nhà xuất bản Văn học, 1994)
 
== Dấu ấn và di sản văn nghệ==
Trong lĩnh vực [[âm nhạc]], Văn Cao là người có công khai phá và giúp hoàn thiện một số thể loại của [[tân nhạc Việt Nam]] như [[Bolero Việt Nam|nhạc trữ tình]] ([[nhạc tiền chiến]]),<ref>Đặng Tiến, ''[https://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/van-cao,-tieng-hat Văn Cao, tiếng hát]''. (Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 26/7/2015). Trích dẫn ý kiến của [[Phạm Duy]]: "Phải đợi cho tới khi tân nhạc ra đời vào những năm cuối 30 và đầu 40 thì chúng ta mới có được một loại nhạc tình lãng mạn do các người tình tiền phong của thời đại như [[Dương Thiệu Tước]], [[Thẩm Oánh]], [[Lê Thương]], [[Văn Chung]], [[Doãn Mẫn (nhạc sĩ Việt Nam)|Dzoãn Mẫn]]…tung ra (…). Tuy nhiên, loại nhạc tình lãng mạn đó chỉ có thể được gọi là đạt tới độ hoàn mỹ khi nó được phát xuất ra từ một con người tài hoa bật nhất của thế giới nghệ sĩ trẻ lúc bấy giờ. Người đó là Văn Cao."</ref> hùng ca ([[nhạc cách mạng]], nhạc kháng chiến),<ref>Dân Huyền, ''[http://vov.vn/van-hoa/am-nhac/nhac-si-van-cao-va-nhung-sang-tac-ve-de-tai-cach-mang-545725.vov Nhạc sĩ Văn Cao và những sáng tác về đề tài cách mạng]''. (Báo điện tử của Đài tiếng nói Việt Nam - VOV.vn, 02/09/2016). Trích dẫn ý kiến của tác giả bài viết, nhạc sĩ Dân Huyền: "Trong dòng âm [[nhạc cách mạng]], Văn Cao là người đầu tiên chắp những đôi cánh lãng mạn, những ước mơ lớn vào các ca khúc, hành khúc chiến đấu. (...) Từ năm 1944 đến năm 1946 là một bước ngoặt lớn, một bước phát triển nhảy vọt của Văn Cao. Từ dòng lãng mạn lành mạnh – yêu nước hùng tráng, Văn Cao chuyển ngay sang dòng âm nhạc cách mạng, chuyển ngay sang dòng thác dữ dội của cách mạng giải phóng dân tộc. Chuyển một cách mau lẹ, tự nhiên, vững chắc, không qua một giai đoạn quá độ, không qua một giai đoạn mò mẫm “nhận đường”. (...) Với “[[Tiến quân ca]]”, lần đầu tiên Quân giải phóng Việt Nam chính thức có một hành khúc hùng tráng, trang nghiêm và lôi cuốn. Với “Tiến quân ca”, lần đầu tiên toàn thể các tầng lớp nhân dân Việt Nam có chung một hành khúc trên đường ra trận. Trước đó, chúng ta chỉ có những nhạc phẩm yêu nước của tuổi trẻ thủ đô, của thanh niên, học sinh, sinh viên và hướng đạo sinh. “Tiến quân ca” là cái mốc bằng vàng đánh dấu sự toàn thắng của âm nhạc cách mạng về cả tư tưởng lẫn về nghệ thuật."</ref> và [[trường ca (âm nhạc)|trường ca]].<ref>Nhạc sĩ kiêm nhà nghiên cứu âm nhạc [[Phạm Duy]] từng viết về vai trò của Văn Cao trong việc khai phá thể loại trường ca trong âm nhạc hiện đại Việt Nam như sau: "Văn Cao là người đẻ ra [[trường ca (âm nhạc)|trường ca]], còn tôi chỉ là người thừa kế. ''[[Trường ca sông Lô]]'' phải là đỉnh cao nhất của nhạc kháng chiến nói riêng, của [[tân nhạc Việt Nam]] nói chung. Sự dài hơi trong những câu nhạc trong bài chứng tỏ nhạc sĩ Văn Cao đã trưởng thành ngay từ lúc tân nhạc vừa mới ra đời." Hay "Trường ca sông Lô là bản hát dài đầu tiên của chúng ta là một tuyệt phẩm mà những người đi sau Văn Cao (như tôi) đã học hỏi được rất nhiều ở ông để tiếp tục làm giầu cho âm nhạc Việt Nam."</ref> Trong lĩnh vực [[thi ca]], ông cũng là một trong ít người không ngừng đi tiên phong với những cách tân mang tính đột phá-sáng tạo trong [[Thơ Việt Nam|thơ Việt Nam hiện đại]].<ref>Thiên Sơn, ''[http://vanhaiphong.com/ly-luan-phe-binh/226-nha-th-vn-cao-con-nhng-ting-rn-v-thien-sn.html Nhà thơ Văn Cao, còn những tiếng rạn vỡ]''. (Trang điện tử Hội nhà văn Hải Phòng, 23/11/2013)</ref><ref>Vũ Nho, ''[http://vannghequandoi.com.vn/Diem-sach/Van-Cao-mot-loi-tho-rieng-5424.html Văn Cao, một lối thơ riêng]''. (Tạp chí văn nghệ quân đội, 17/03/2014)</ref><ref>Lê Thiếu Nhơn, ''[http://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/Van-Cao-trong-coi-tho-446578/ Văn Cao trong cõi thơ]''. (Báo Công an nhân dân điện tử, 27/06/2017)</ref> Đã có những quan điểm chuyên môn xem ông là một trong những người đi khai phá, mở đầu cho sự phát triển của thể loại [[trường ca|trường ca thơ]] hiện đại Việt Nam, đặc biệt kể từ nửa cuối thập niên 1950 trở đi.<ref name="toquoc.vn">Trần Thiện Khanh, ''[http://toquoc.vn/doi-thoai/doi-thoai-ve-truong-ca-va-truong-ca-viet-nam-hien-dai-105562.html Đối thoại về trường ca và trường ca Việt Nam hiện đại]''. (Báo điện tử Tổ Quốc, 23/06/2009)</ref><ref>Lê Thiếu Nhơn, ''[http://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/Van-Cao-trong-coi-tho-446578/ Văn Cao trong cõi thơ]''. (Báo Công an nhân dân điện tử, 27/06/2017). Trích dẫn tác giả: "Thử thách thể loại [[trường ca]] đòi hỏi sức cảm sức nghĩ phi thường, cũng chính là cơ hội phô diễn một Văn Cao tài năng cồng kềnh. Hít thở không khí xứ sở độc lập tự chủ, Văn Cao khẳng định “có người hàng năm mặt trời không thấy mọc/ khép đùi xếp phách tiễn đêm đi/ hôm nay ngồi chép bài ca mới/ hương cốm mùi rơm ngát giếng đình” để mường tượng hòa bình đích thực “chúng ta sẽ trả về những bà mẹ Pháp/ núi hài cốt cuộc chiến tranh bẩn thỉu/ cũng như những người mẹ chúng tôi/ tiếc những dòng sữa, những cái hôn đã mất” và nghe được những va đập mỏng mảnh “tiếng thức dậy niềm cô đơn nuối tiếc/ những con người gần ánh sáng chưa quen”. (...) Đánh giá một cách cẩn trọng, trường ca “[[Những người trên cửa biển]]” đã xác lập một vị trí nhất định trong nền [[thơ Việt Nam]] thế kỷ XX, bởi tình yêu mảnh đất “mỗi người dân Hải Phòng thật kiếm ăn từ nhỏ/ mỗi người dân Hải Phòng đều biết đổ mồ hôi” đã dựng được hình tượng nhà thơ Văn Cao chung thủy với thời đại “cuộc đời ôm tôi như trong một cái bình/ một tiếng vang vang cả lòng cả đáy”."</ref><ref>Khuất Bình Nguyên, ''[https://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/co-ai-cuoi-ngua-ve-kinh-bac… Có ai cưỡi ngựa về Kinh Bắc…]''. (Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 19/10/2013). Trích dẫn tác giả: "''[[Những người trên cửa biển]]'' mở đầu cho vụ mùa thu hoạch [[trường ca]] của thi ca Việt Nam nửa sau thế kỷ XX. Đặc biệt trong và sau những năm chống Mỹ cứu nước, [[thơ Việt Nam]] đi đến một tầm vóc mới ở sự ra quân rầm rộ của nhiều bản trường ca."</ref><ref>Khuất Bình Nguyên, ''[https://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/truong-ca-nua-sau-the-ky-xx Trường ca nửa sau thế kỷ XX]''. (Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 9/1/2016)</ref><ref>Đỗ Quyên, ''[http://vannghethainguyen.vn/ctview/id/8176 Đến sự hiện đại hóa thơ Việt từ “trường phái trường ca Việt”]''. (Báo Văn nghệ Thái Nguyên, 06/06/2017). Trích dẫn tác giả: "...Hiện tượng trường ca Việt Nam có vùng hoạt động trong vòng 40 năm 1960-2000: thời điểm lịch sử 1975 ở quãng giữa với khoảng 15 năm trước và 20 năm sau đó. (...) Dấu mốc 1960 có được do chúng tôi chọn 3 điểm khởi phát của hiện tượng trường ca Việt Nam; đó là tác giả Văn Cao với tác phẩm ''[[Những người trên cửa biển]]'' - 1956; [[Hoàng Cầm (nhà thơ)|Hoàng Cầm]], ''[[Tiếng hát người quan họ]]'' - 1956; và [[Thu Bồn (nhà thơ)|Thu Bồn]], ''[[Bài ca chim Chơ Rao]]'' - 1962."</ref> Tuy nhiên, những đóng góp của ông cho thơ ca và hội họa<ref name="thethaovanhoa.vn"/><ref>Nguyễn Nguyệt, ''[http://vhnt.org.vn/tin-tuc/chan-dung-van-hoa/29166/hoi-hoa-van-cao Hội họa Văn Cao]''. (Tạp chí ''Văn hóa Nghệ thuật'' số 320, tháng 2-2011)</ref><ref>Trần Khánh Chương, ''[http://vietnamfineart.com.vn/Story/Tapchimythuat/2013/12/3898.html Kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhạc sĩ, họa sĩ, thi sĩ Văn Cao (1923-2013): Có một họa sĩ tài ba, Văn Cao]''. (Trang điện tử của Hội Mỹ thuật Việt Nam, 2013)</ref> dân tộc ít khi được nhắc tới so với những cống hiến to lớn về [[âm nhạc]] của ông. Văn Cao được xem là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử phát triển của [[văn hóa Việt Nam]] – một con người mà sự kết hợp nhạc-họa-thơ là xuyên suốt trong gần như toàn bộ những sáng tác đa dạng của ông. Trong địa hạt âm nhạc của ông, ngoài những nét đẹp về giai điệu, ca từ cũng mang nhiều tính thơ và họa. Còn trong địa hạt thơ của ông, họa tính là rất đặc trưng.<ref>Đỗ Thu Hà, ''Chất hội họa trong thơ Văn Cao''. (Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội)</ref> Ở Văn Cao, tầm vóc không phải là thứ ''lượng hóa'', tức là tính bằng con số những sáng tác. Bởi xét về số lượng, những sáng tác của Văn Cao (đặc biệt trong lĩnh vực nhạc và thơ) còn ít hơn đáng kể ngay cả so với nhiều [[nhạc sĩ]] hoặc [[Nhà thơ|thi sĩ]] ở tầm trung tại Việt Nam. Đánh giá Văn Cao cần nhìn xuyên suốt tư tưởng của ông trong cả ba lĩnh vực là nhạc-họa-thơ. Xét về nhiều phương diện, Văn Cao là mẫu người ''phản ví dụ'' điển hình trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Nói là ''phản ví dụ'' bởi [[lịch sử Việt Nam]] ít hoặc không có khuynh hướng tạo ra những mẫu người cổ xúy mạnh cho tinh thần dám khai phá sáng tạo như ông. Mẫu người trí thức hoặc nghệ sĩ điển hình trong xã hội Việt Nam (từ chế độ phong kiến, tới phong kiến nửa thực dân, rồi thời phân chia quốc cộng) thường là con người biết nương theo hoàn cảnh, biết tận tụy phục vụ chế độ chính trị anh ta đang sống. Văn Cao chưa bao giờ nuôi tham vọng chính trị quá mức của một người yêu nước thông thường, tuy nhiên ông luôn là người cổ súy mạnh cho tinh thần độc lập-sáng tạo trong tư duy của người nghệ sĩ. Đây có thể xem là một đặc tính ít mang ảnh hưởng phương Đông hơn cả trong con người của Văn Cao. Có thể nó có ảnh hưởng ít nhiều từ văn hóa phương Tây, cái mà ông có thể tiếp nhận ở mức độ nhất định trong hệ thống giáo dục thuộc địa của Pháp. Mặc dù là đôi bạn văn nghệ tri kỷ, nhưng về nhiều phương diện Văn Cao trái ngược với Phạm Duy. Văn Cao là người đi tiên phong, đặt nền móng, gợi mở nhiều hướng phát triển mới cho nhạc và thơ Việt hiện đại nhưng ông chưa bao giờ thực sự thăng hoa về mặt ''lượng'' (so với sự dồi dào về mặt ''chất'') ở cả hai lĩnh vực. Còn Phạm Duy là người kế thừa nhiều khai phá từ Văn Cao và phát triển chúng đến độ phì nhiêu.
 
Văn Cao đã được nhiều người coi là một trong những danh nhân văn hóa tiêu biểu của Việt Nam thời hiện đại.<ref>Khuất Bình Nguyên, ''[https://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/co-ai-cuoi-ngua-ve-kinh-bac… Có ai cưỡi ngựa về Kinh Bắc…]''. (Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 19/10/2013)</ref><ref name="vanhoanghean.com.vn">Hồ Bất Khuất, ''[http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/van-cao-%E2%80%93-%E2%80%9Cnhan-vat-van-hoa-nam-2013%E2%80%9D Văn Cao – “Nhân vật văn hóa năm 2013”]''. (Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 24/1/2014)</ref><ref>Đào Quang (Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Nam Định), ''[http://vanhocnghethuatyenbai.gov.vn/tin-tuc/chan-dung-van-nghe-si/?UserKey=Lung-danh-nguoi-nghe-sy Lừng danh người nghệ sỹ]''. (Trang điện tử của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Yên Bái, 24/05/2016)</ref> Là một bậc thầy của nghệ thuật sử dụng ngôn từ phong phú và biến hóa trong các sáng tác nhạc và thơ của ông, cống hiến của Văn Cao cho riêng tiếng Việt - với tư cách một ngôn ngữ có khả năng chuyên chở đầy đủ những sắc thái cảm xúc và tư tưởng của người nghệ sĩ - đã thậm chí được so sánh với cống hiến của [[Nguyễn Du]] cho riêng ngôn ngữ thi ca dân tộc. Là người tài hoa được thừa nhận trên nhiều lĩnh vực như nhạc-họa-thơ<ref>Nguyễn Thị Ngọc Hà, ''[http://vannghequandoi.com.vn/Binh-luan-van-nghe/tan-man-van-nhac-hoa-8547.html Tản mạn văn, nhạc, họa]''. (Tạp chí văn nghệ quân đội, 08/02/2016). Trích dẫn tác giả: “Ở Việt Nam, trường hợp tiêu biểu cho sự song hành ba tài năng trong một con người là Văn Cao. Ông là nhạc sĩ, nhà thơ, họa sĩ. Nhiều đồng nghiệp đã gọi ông là “nghệ sĩ trên nghệ sĩ”. Những ca khúc bất hủ của Văn Cao đã nằm lòng nhiều lứa tuổi từ trước Cách mạng tháng Tám đến bây giờ. Tất cả những nhạc phẩm, ông đều phổ từ thơ của ông hoặc tự viết ca từ cho ca khúc của mình. Điều đặc biệt là, những bài thơ, những ca từ ông viết ra đều mang màu sắc hội họa, bởi ngoài tài danh văn chương và âm nhạc, ông còn là một họa sĩ đích thực. Từ những năm 1943–1945, những bức sơn dầu, bột màu của ông đã được đánh giá cao trong triển lãm mĩ thuật. Hiện nay một số tranh của ông vẫn được lưu giữ trong Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam.”</ref> nhưng cuộc đời và sự nghiệp của Văn Cao cũng được xem là một điển hình của định mệnh "tài"<ref>Nhắc đến tài năng mang tính sáng tạo trong nhiều lĩnh vực của Văn Cao, người ta vẫn thường dùng những mỹ từ như "tài hoa", "đa tài", và thậm chí "thiên tài".</ref> và "tai"<ref>"Tai" ở đây dùng với nghĩa là "tai ương", "tai nạn".</ref> trong lịch sử văn hóa của Việt Nam. Ông không có những quãng thời gian đủ dài và suôn sẻ trong sáng tạo nghệ thuật so với những tên tuổi như [[Phạm Duy]] hay [[Trịnh Công Sơn]] bởi bối cảnh [[chính trị]], [[văn hóa]] đặc thù của miền Bắc so với [[Miền Nam (Việt Nam)|miền Nam Việt Nam]] những năm chiến tranh chia cắt. Đánh giá về Văn Cao, trong nhiều bài viết các tác giả không ngần ngại gắn cho ông mỹ từ ''thiên tài'', trong đó có [[Phạm Duy]] (2007), [[Thụy Khuê (nhà phê bình)|Thụy Khuê]] (2010), Đỗ Ngọc Thạch (2013), hay [[Trần Mạnh Hảo]] (2013). Đây mặc định có thể xem là đánh giá ở mức độ cao nhất đối với bất cứ ai hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam. Trong văn học nghệ thuật của dân tộc, trước Văn Cao có lẽ chỉ có [[Nguyễn Du]] trong thi ca là thường được gắn với mỹ từ ''thiên tài'' nhiều hơn cả. Việc [[Phạm Duy]] dùng mỹ từ đó cũng cho thấy sự trân trọng ông dành cho Văn Cao lớn thế nào, bởi Phạm Duy với lòng tự tôn của một cây đại thụ hàng đầu [[tân nhạc Việt Nam|tân nhạc Việt]] không phải người dễ dãi trong đánh giá thành tựu của đồng nghiệp. Với những kiến thức phong phú về [[Lý thuyết âm nhạc|nhạc lý]] và văn hóa dân tộc, Phạm Duy hơn ai hết có đầy đủ thẩm quyền đánh giá về tài năng của Văn Cao.
 
=== Tính dự báo hay tiên báo trong những sáng tác phẩm của Văn Cao ===
Nhiều người nghiên cứu sâu về Văn Cao (trong đó có bạn vong niên của ông là nhà nghiên cứu âm nhạc [[Nguyễn Thụy Kha]] và con trai trưởng của Văn Cao là họa sĩ Văn Thao) thường nhắc tới khả năng đưa ra những ''tiên tri'' hay dự đoán đến mức chính xác đáng kinh ngạc trong những sáng tác âm nhạc của ông. Nhiều sự kiện đã ''xảy ra'' trong các tác phẩm của Văn Cao trước khi chúng được ghi nhận trong thực tế lịch sử Việt Nam thế kỷ ông đã sống.<ref>[[Nguyễn Thụy Kha]], ''[http://nld.com.vn/van-nghe/van-cao-ong-hoang-am-nhac-20170908223408707.htm VĂN CAO - "Ông hoàng âm nhạc"; Tính dự báo và "Việt hóa" âm nhạc Tây là những đóng góp lớn của Văn Cao]''. (BÁO NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ, 09/09/2017)</ref> Một số tác phẩm điển hình là ''Không quân Việt Nam'' và ''[[Tiến về Hà Nội]]''.<ref>Tân Linh, ''[http://anninhthudo.vn/giai-tri/hat-tien-ve-ha-noi-nho-van-cao/570816.antd Hát Tiến về Hà Nội, nhớ Văn Cao]''. (''Báo An ninh Thủ đô điện tử'', 16/09/2014)</ref>
 
=== Nhận xét ===