Khác biệt giữa các bản “Nhà Triệu”

n
Đã lùi lại sửa đổi của 14.248.106.195 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Mangketnoi45
n (Đã lùi lại sửa đổi của 14.248.106.195 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Mangketnoi45)
Thẻ: Lùi tất cả Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
|_noautocat = true}}
 
'''Nhà Triệu''' ([[chữ Hán]]: 趙朝, [[Hán Việt]]: ''Triệu triều'') là triều đại duy nhất của [[Việt Nam]] đã cai trị nước [[Nam Việt]](Phía Bắc Việt Nam và phía Nam Trung Quốc) ở suốt giai đoạn 204–111 trước [[Công nguyên]](Sách giáo khoa của chính quyền Việt Nam hiện nay cho rằng là của [[Trung Quốc]]).
 
Nguồn gốc của nhà Triệu bắt nguồn từ [[Triệu Đà]], một võ tướng của [[nhà Tần]] theo lệnh [[Tần Thủy Hoàng]] dẫn quân xuống chinh phạt phía Nam sông Trường Giang (khi đó là lãnh thổ của các bộ tộc [[Bách Việt]]). Ông chiếm được nhiều vùng lãnh thổ (nay là [[Quảng Đông]], [[Quảng Tây]] và [[Miền Bắc (Việt Nam)|miền Bắc Việt Nam]]), nhưng [[nhà Tần]] ở [[Trung Quốc (khu vực)|Trung Hoa]] đã diệt vong. Nhận thấy triều đình trung ương đã sụp đổ, Triệu Đà bèn tách ra cát cứ, dùng những lãnh thổ ông chiếm được để lập nên nước [[Nam Việt]]. Sau khi [[nhà Hán]] làm chủ Trung Hoa, khi về già, Triệu Đà đã quyết định bỏ việc xưng Đế, quy phục [[nhà Hán]] (nhưng vẫn xưng Hoàng đế ở trong [[Nam Việt]]). [[Triệu Đà]] viết thư gửi cho vua Hán, trong thư Triệu Đà đã công nhận rằng mình là người Trung Hoa, nhà Triệu chỉ là [[chư hầu]] phục vụ cho [[nhà Hán]], thay mặt vua Hán để cai trị phía Nam, bản thân ông cũng chỉ coi những thần dân người Việt là đám ''"[[Nam Man|Man Di]]"'' mà thôi dù cho ông lại đại diện và chống đỡ rồi chiến đấu cho quyền lợi của xứ này<ref name="zh.wikisource.org">[https://zh.wikisource.org/wiki/%E5%A4%A7%E8%B6%8A%E5%8F%B2%E8%A8%98%E5%85%A8%E6%9B%B8/%E5%A4%96%E7%B4%80%E5%8D%B7%E4%B9%8B%E4%BA%8C Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển 2, Kỷ nhà Triệu]</ref>.
 
==Lịch sử==
:"''An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép to 4 chữ: "Kỷ Triệu Vũ Đế". Người đời theo sau đó không biết là việc không phải. Than ôi! Đất Việt [[Nam Hải quận|Nam Hải]], [[Quế Lâm quận|Quế Lâm]] không phải là đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi phát ở Long Xuyên, lập quốc ở [[Phiên Ngung (địa danh cổ)|Phiên Ngung]], muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta. Nếu coi là đã làm vua nước Việt, mà đến ở cai trị nước ta, thì sau đó có [[Lâm Sĩ Hoằng]] khởi ở đất Bàn Dương, [[Lưu Nghiễm]] khởi ở [[Quảng Châu (địa danh cổ)|Quảng Châu]], đều xưng là Nam Việt Vương, cũng cho theo Quốc kỷ được ư? Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng như Ngụy kiêm tính nước Thục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp theo An Dương. Không thế, thì xin theo lệ ngoại thuộc để phân biệt với nội thuộc vậy''".
 
Từ thập niên 1960 của thế kỉ 20, tất cả các nhà sử học miền Bắc Việt Nam đều nhất trí coi Triệu Đà là tướng xâm lược của nhà Tần, và nhà Triệu là triều đại của người Hán(Hoa Hạ) của [[Trung Quốc]], không phải là triều đại của người Việt và [[Việt Nam]].
 
*'''Triệu Đà tự nhận nhà Triệu là phiên thuộc của nhà Hán:'''
Theo [[Sử ký Tư Mã Thiên]], Quyển 113, phần ''Nam Việt liệt truyện'',<ref name="SKTMT Wikisource">[[Tư Mã Thiên]]. ''[[Sử ký Tư Mã Thiên]], Quyển 113, [[:s:zh:史記/卷113|Nam Việt liệt truyện]].</ref> cũng ghi rằng Triệu Đà tâu với sứ giả của [[Hán Văn Đế]] rằng ''"giữa chốn Man Di, phía đông là [[Mân Việt]] chỉ có ngàn dân vẫn xưng vương, phía tây [[Âu Lạc]] là nước trần truồng cũng xưng [[Vương (tước)|vương]]. Lão thần lấy bậy [[Hoàng đế|đế]] hiệu, lấy thế làm vui, đâu dám để vua trời nghe được.”''
 
Như vậy, Triệu Đà đã nhận rằng mình chỉ là [[phiên vương]] phục vụ cho [[nhà Hán]], thay mặt vua Hán để cai trị phía Nam, bản thân ông cũng tỏ ra khinh miệt người Việt địa phương, coi họ chỉ là đám ''"[[Man Di]]"'', là xứ ''"trần truồng"'' mà thôi ,tuy nhiên cũng có thể là ông muốn tranh thủ hòa hoãn với nhà Hán để xây dựng và bảo vệ chính quyền cùng Tổ quốc Việt độc lập tự do của riêng dòng họ nhà ông.
 
==Xem thêm==