Khác biệt giữa các bản “Nhà Minh”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
1457–1464 {{smaller|(lần 2)}}|leader4=[[Minh Vũ Tông|Vũ Tông]]|leader5=[[Minh Thế Tông|Thế Tông]]|year_leader4=1506–1521|year_leader5=1521–1567|year_leader6=1572–1620|leader6=[[Minh Thần Tông|Thần Tông]]|leader7=[[Minh Tư Tông|Tư Tông]]|year_leader7=1627–1644}}
{{Lịch sử Trung Quốc}}
'''Nhà Minh''' ([[chữ Hán]]: 明朝, [[Hán Việt]]: ''Minh triều'', [[bính âm]]: ''Míng cháo''; [[23 tháng 1]] năm [[1368]] - [[25 tháng 4]] năm [[1644]] {{NoteTag|giới sử học thông thường lấy năm 1644 là năm triều Minh vong quốc, Nam Minh đến năm 1662 mới diệt vong, Minh Trịnh diệt vong vào năm 1683.}}) là triều đại cuối cùng do [[người Hán]] kiến lập trong [[lịch sử Trung Quốc|lịch sử phong kiến Trung Quốc]] sau khi tiêu diệt [[Đế quốc Mông Cổ|Mông Cổ]]. Năm [[1368]], [[Chu Nguyên Chương]] sau khi tiêu diệt các thế lực quần hùng và đi đuổi [[người Mông Cổ]] ([[Nhà Nguyên]]) khỏi Trung Quốc, tại phủ Ứng Thiên đăng cơ, quốc hiệu '''Đại Minh'''<ref name="国号">明[[朱國禎]]《[[湧幢小品]]》卷二「國號」條:“[[國號]]上加大字,始於[[元朝|胡元]],我朝因之。……其言[[漢朝|大漢]]、[[唐朝|大唐]]、[[宋朝|大宋]]者,乃臣子及外夷尊稱之詞。”</ref>, do [[hoàng thất]] [[họ Chu]], nên còn được gọi là '''Chu Minh'''<ref name="明太祖的開國規模" />. Đầu thời kiến quốc, Minh Thái Tổ [[Minh Thái Tổ|Chu Nguyên Chương]] định đô tại [[Ứng Thiên (phủ cũ Trung Quốc)|phủ Ứng Thiên]] (nay là [[Nam Kinh]]), đến năm Vĩnh Lạc thứ 19 (1421), [[Minh Thành Tổ]] Chu Đệ dời đô đến [[Thuận Thiên (phủ cũ Trung Quốc)|phủ Thuận Thiên]] (nay là [[Bắc Kinh]]), kinh sư cũ đổi thành [[Nam Kinh]]<ref name="明太祖的開國規模" />.{{Contains Chinese text}}Thời kỳ đầu triều Minh, qua chính sách nghỉ ngơi lại sức của Chu Nguyên Chương, quốc lực triều Minh khôi phục nhanh chóng, sử xưng Hồng Vũ chi trị<ref name="简介">{{Chú thích web|tiêu đề=明朝|url=http://www.ccnt.com.cn/china/history/history/ming/ming.htm|nhà xuất bản=中华文化信息网|ngày truy cập = ngày 13 tháng 2 năm 2014 |ngôn ngữ=中文}}</ref>. Đến thời kỳ Minh Thành Tổ Chu Đệ, quốc thế đạt đỉnh, những năm Vĩnh Lạc khoa trương lãnh thổ, còn phái khiển [[Trịnh Hòa]] bảy lần hạ Tây Dương, học giả hiện đại gọi là Vĩnh Lạc thịnh thế. Sau đó, thời kỳ [[Minh Nhân Tông|Nhân Tông]] và [[Minh Tuyên Tông|Tuyên Tông]] cũng là thời hưng thịnh, sử xưng Nhân Tuyên chi trị. Tuy nhiên, thời kỳ [[Minh Anh Tông|Anh Tông]] và [[Minh Đại Tông|Cảnh Thái đế]], trải qua [[sự biến Thổ Mộc bảo]], quốc lực trung suy<ref name="简介"/>. Sau khi [[Minh Thế Tông|Thế Tông]] đăng cơ, phát sinh tranh chấp [[Đại lễ nghị]], sau khi thanh trừ thế lực hoạn quan và quyền thần, hoàng đế tổng quản triều cương, thực hành Gia Tĩnh tân chính, song sau này không quan tâm triều chính. Sau khi Minh Thế Tông từ trần, trải qua Long Khánh tân chính và Vạn Lịch trung hưng, quốc lực được khôi phục. Trung kỳ thời [[Minh Thần Tông|Thần Tông]], hoàng đế dần lơ đãng triều chính, sử xưng Vạn Lịch đãi chính, bắt đầu chính trị hỗn loạn thời vãn Minh. Thời [[Minh Hi Tông|Hi Tông]], đám hoạn quan làm loạn triều cương, sau khi [[Minh Tư Tông|Tư Tông]] kế vị thì bị diệt trừ. Tuy nhiên, do Tư Tông có quyết sách sai lầm, cùng với nội ưu ngoại hoạn, triều Minh cuối cùng mất vào tay [[Lý Tự Thành]] vào năm 1644. Sau đó, chính quyền Nam Minh rồi Minh Trịnh tiếp tục tồn tại trong mấy thập niên, kết thúc khi [[triều Thanh]] chiếm lĩnh Đài Loan. Triều Thanh tồn tại giai đoạn 1644 đến 1912, khi chính thức kết thúc lịch sử phong kiến Trung Quốc, tiến tới thời hiện đại là nền tảng nước [[Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa]] bây giờ.
 
Nhà Minh cũng đánh dấu việc hình thành nền [[chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc]] như hiện nay,nhà Minh manh nha đất nước [[Trung Quốc]] hiện đại.
Người dùng vô danh