Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Bùi Dzinh”

không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
|trưởng chức vụ= Cấp bậc
|trưởng viên chức= Đại tá
|tiền nhiệm= Đầu tiên
|kế nhiệm= -Trung tá [[Đoàn Văn Quảng]]
|địa hạt= Bình Định<br>''(Vùng 2 chiến thuật)''<br>Sa Đéc<br>''(Miền tây Nam phần)''
|phó chức vụ= Tư lệnh phó<br>Tham mưu trưởng
|phó viên chức= -Trung tá [[Đoàn Văn Quảng]]<br>-Trung tá Tôn Thất Đông
 
|chức vụ 2= [[Hình: ARVN 5th Division SSI.svg|22px]]<br>Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ binh
|địa hạt 4= Đệ tứ Quân khu<br>''(Cao nguyên Trung phần)''
 
|chức vụ 5= [[Hình: ARVN 23rd Division Insignia.svg|22px]]<br>Tư lệnh Sư đoàn 1615 Khinh chiến<br>''(tiền thân của Sư đoàn 23 Bộ binh)''
|bắt đầu 5= 10/1958
|kết thúc 5= 4/1959
Đầu tháng 5 năm 1960, mãn khóa học từ Mỹ về nước, ông được cử làm Tư lệnh phó Sư đoàn 21 Bộ binh, do Đại tá [[Trần Thiện Khiêm]] làm Tư lệnh. Ông đã cùng Đại tá Khiêm đưa Sư đoàn 21 từ miền Tây về Sài Gòn ứng cứu Tổng thống [[Ngô Đình Diệm]], chống lại nhóm sĩ quan do Đại tá [[Nguyễn Chánh Thi]] (Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Nhảy dù) cầm đầu cuộc [[Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1960|Đảo chính ngày 11/11/1960]].<ref>Đại tá Bùi Dzinh có 2 lần đưa quân về ứng cứu Tổng thống [[Ngô Đình Diệm]]. Lần thứ nhất thành công với Sư đoàn 21 Bộ binh ở cuộc [[Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1960|Đảo chính ngày 11/11/1960]]. Lần thứ hai với Sư đoàn 9 Bộ binh không thành công ở cuộc [[Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963|Đảo chính ngày 1/11/1963]].</ref> Đầu tháng 6 năm 1961, ông được thuyên chuyển về vùng 3 chiến thuật để nhận chức vụ Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ binh (Bộ Tư lệnh đặt tại căn cứ Phú Lợi, Bình Dương), dưới quyền Tư lệnh của Thiếu tướng [[Trần Ngọc Tám]]. Hơn 4 tháng sau, tướng Trần Ngọc Tám rời Sư đoàn để về phục vụ ở Trung ương, Đại tá [[Nguyễn Đức Thắng (tướng)|Nguyễn Đức Thắng]] (nguyên Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh) từ Vùng 1 Chiến thuật chuyển về thay thế chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5. Ngày Quốc khánh 26 tháng 10, ông được thăng cấp [[Đại tá]] tại nhiệm.
 
Đầu năm 1962, ông được thuyên chuyển ra miền Trung để nhận chức vụ Tư lệnh đầu tiên của Sư đoàn 9 Bộ binh tân lập.<ref>Sư đoàn 9 Bộ binh được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1962 tại Bình Định.</ref> Đến ngày 20 tháng 9 năm 1963, sau khi Sư đoàn đã được huấn luyện và bổ sung hoàn chỉnh cấp số. Ông chỉ huy Sư đoàn 9 hành quân di chuyển vào Nam, đặt Bộ Tư lệnh tại Thị xã Sa Đéc thuộc Khu 42 chiến thuật. Tại đây ông được kiêm luôn chức vụ Tư lệnh Khu 42 chiến thuật.
 
*''Thời điểm Đại tá Bùi Dzinh tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh, nhân sự trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn và chỉ huy các Trung đoàn được phân bổ trách nhiệm như sau:''<br><br>-Tư lệnh - Đại tá [[Bùi Dzinh]]<br>-Tham mưu trưởng - Trung tá [[Tôn Thất Đông (Đại tá, Quân lực VNCH)|Tôn Thất Đông]]<ref>Trung tá Tôn Thất Đông sinh năm 1925 tại Huế, tốt nghiệp khóa 3 Võ bị Liên quân Đà Lạt. Năm 1968, Đại tá Tỉnh trưởng Vĩnh Bình, năm 1971 giải ngũ sau khi đắc cử Dân biểu Quốc hội Ha nghị Viện</ref><br>-Trung đoàn 14 - Trung tá [[Chương Dzềnh Quay]]<br>-Trung đoàn 15 - Thiếu tá [[Nguyễn Cả (Đại tá, Quân lực VNCH)|Nguyễn Cả]]<ref>Thiếu tá Nguyễn Cả sinh năm 1915 tại Bình Định, tốt nghiệp khóa 7 Võ bị Liên quân Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Phụ tá An ninh tại Phủ Tổng thống. Giải ngũ năm 1967</ref>
 
===Kỷ luật và xuất ngũ===
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông đã không tán thành cuộc đảo chính của nhóm quân nhân do Trung tướng [[Dương Văn Minh]] lãnh đạo. Sáng sớm ngày 02 tháng 11, mặc dù đang hành quân tại Thị xã Trúc Giang (tỉnh lỵ tỉnh Kiến Hòa), ông đã đưa Sư đoàn 9 Bộ binh về Sài gòn với ý định giải cứu Tổng thống Diệm lần thứ hai. Tuy nhiên lần này ông đã bị Đại tá [[Nguyễn Hữu Có]] (người vừa thay thế Đại tá [[Bùi Đình Đạm]] giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh), đem quân chặn ở ngã ba Trung Lương và khu vực bến phà Mỹ Thuận ở sông Tiền. Các đơn vị thuộc Sư đoàn 7 đã rút hết những chiếc phà ở bờ nam thuộc tỉnh Vĩnh Long về hết bờ bắc thuộc tỉnh Định Tường, đồng thời phong tỏa luôn bến phà Rạch Miễu giữa Thị xã Mỹ Tho (Tỉnh lỵ tỉnh Định Tường) và Thị xã Trúc Giang, không cho quân Sư đoàn 9 Bộ binh vượt sông Tiền Giang. Sứ mạng không thành và kết quả là ngày 6 tháng 11, ôngnhận đượclệnh gọibàn giao Sư đoàn 9 Bộ binh lại cho cấp phó là Trung tá [[Đoàn Văn Quảng]] để về trình diện gấp [[Hội đồng Quân nhân Cách mạng (Việt Nam Cộng hòa)|Hội đồng quân nhân cách mạng]]., Sausau đó ông phải ra trước Hội đồng Kỷ luật Quân đội. Ông, bị cách chức và "nghỉ dài hạn không lương", tạm thời không còn được tham gia bất cứ một việc gì trong quân đội nữa (hình thức sa thải khỏi quân đội).
 
Ngày 19 tháng 2 năm 1965, mặc dù đang ở trong tình trạng "nghỉ dài hạn không lương" và bị cách chức, ông đã cùng với Thiếu tướng [[Lâm Văn Phát]], Đại tá [[Phạm Ngọc Thảo]] và một số sĩ quan tham gia cuộc chỉnh lý lật đổ Quốc trưởng [[Nguyễn Khánh]]. Chính ông đã vạch ra kế hoạch và cùng Trung tá [[Lê Hoàng Thao (Trung tá, Quân lực VNCH)|Lê Hoàng Thao]]<ref>Trung tá Lê Hoàng Thao, đương nhiệm Tỉnh trưởng Long An (nguyên Tỉnh trưởng Kiến Hòa 1959-1961), giải ngũ năm 1965.</ref> đưa Lực lượng Địa phương quân từ tỉnh Long An về chiếm Bộ Tư lệnh Biệt Khu Thủ đô (trại Lê văn Duyệt) trong vòng 48 giờ. Cuộc chỉnh lý thất bại vì không được người Mỹ cũng như đa số sĩ quan cao cấp trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa ủng hộ, ông đã tẩu thoát ngay sau ngày 20 tháng 2. Ông bị Tòa án Quân sự vùng 3 chiến thuật kết án "tử hình khiếm diện". Cuối tháng 5, ông bị bắt tại một Giáo xứ ở vùng Xóm Mới, quận Gò Vấp thuộc tỉnh Gia Định, ngoại ô Thành phố Sài Gòn. Tòa án Quân sự Mặt trận điều chỉnh lại bản án "tử hình khiếm diện" và kết án ông bị tù chung thân, giam ông tại Đề lao Chí Hòa với hai tội danh: Chuyên viên đảo chính và sử dụng quân đội bất hợp pháp, đồng thời Hội đồng Kỷ luật Quân đội chính thức cho ông giải ngũ vĩnh viễn. Năm 1967, ông được trả tự do nhân ngày Tổng thống [[Nguyễn Văn Thiệu]] ban hành Hiến pháp của nền Đệ nhị Cộng hòa (1 tháng 7 năm 1967).