Khác biệt giữa các bản “Hoằng Trú”

n
Năm Ung Chính thứ 11 ([[1733]]), [[tháng giêng]], Hoằng Trú được ân phong '''Hòa Thạc Hòa Thân vương''' (和碩和親王). Phong hiệu Hòa, có Mãn văn là 「hūwaliyaka」, ý là ''"hòa mục"''. Năm thứ 13 ([[1735]]), Hoằng Trú được mệnh cùng Bảo Thân vương [[Hoằng Lịch]] và [[Ngạc Nhĩ Thái]] xử lý chuyện [[H'Mông|Miêu Cương]]<ref>赵尔巽. 卷二百二十 列传七_清史稿. 国学导航. [2019-08-30].</ref>, sau được chuẩn cho quản lý sự vụ của [[Nội vụ phủ]].
 
Khi Hoằng Lịch kế vị trở thành Càn Long Đế, Hoằng Trú từng được mệnh đảm nhiệm [[Đô thống]] của [[Mãn Châu]] [[Chính Bạch kỳ]][[Mãn Châu]] [[Tương Hoàng kỳ]], đồng thời xử lý sự vụ của [[Ung Hòa cung]], [[Võ Anh điện]] và [[Phụng Thần uyển]]. Năm Càn Long thứ 18 ([[1753]]), chuẩn cho tham dự [[Nghị chính đại thần]]. Trong thời gian đảm nhiệm các chức vụ, Hoằng Trú bị hai lần hạch nghị, một là vào năm Càn Long thứ 7 ([[1742]]) khi Thượng thư [[Ban Đệ]] hạch tội Hoằng Trú cùng Phó Đông thống [[Tác Bái]] trong việc tra số đậu đen. Một lần nữa là vào năm thứ 13 ([[1748]]), khi Thượng thư [[Cáp Đạt Cáp]] hạch tội Hoằng Trú làm Ngọc điệp có chỗ sai sót.
 
Năm [[Càn Long]] thứ 3518 ([[17701753]]), ngàychuẩn cho tham dự [[13Nghị thángchính 7đại thần]]. (âmTrong lịch),thời giờgian Thân,đảm Hòanhiệm Thâncác vươngchức vụ, Hoằng Trú quabị đờihai khilần 58hạch tuổinghị, đượcmột truy thụyvào năm '''HoàCàn CungLong Thânthứ vương'''7 (和恭親王[[1742]]), mệnhkhi HoàngThượng bát tửthư [[VĩnhBan TuyềnĐệ]], Hoànghạch tội Hoằng Trú cùng thậpPhó nhịĐông tửthống [[VĩnhTác Bái]] mặctrong tangviệc phục.tra Mộsố phầnđậu củađen. ôngMột đượclần gọinữavào năm thứ 13 ([[Bắc Cung1748]] (北宮), naykhi Thượng hươngthư [[Cáp GiápĐạt SơnCáp]] (卸甲山)hạch tội [[MậtHoằng Vân]]Trú làm Ngọc điệp có chỗ sai sót.
 
Năm thứ 35 ([[1770]]), ngày [[13 tháng 7]] (âm lịch), giờ Thân, Hòa Thân vương Hoằng Trú qua đời khi 58 tuổi, được truy thụy là '''Hoà Cung Thân vương''' (和恭親王), mệnh Hoàng bát tử [[Vĩnh Tuyền]], Hoàng thập nhị tử [[Vĩnh Cơ]] mặc tang phục. Mộ phần của ông được gọi là [[Bắc Cung]] (北宮), nay là hương [[Tá Giáp Sơn]] (卸甲山) ở [[Mật Vân]].
 
Một chi Hòa vương phủ nhập kỳ, được phân vào Tả dực đệ nhị tộc của Chính Lam kỳ, cùng kỳ tịch với Di vương phủ (hậu duệ [[Dận Tường]]), Liêm vương phủ (hậu duệ [[Dận Tự]]), Bối tử [[Dận Đường]] phủ cùng Hàm vương phủ (hậu duệ [[Dận Bí]]). Phủ đệ của ông nằm ở cửa Đông, thuộc khu Đông Thành, tên gọi [[Thiết Sư Tử hồ đồng]] (鐵獅子胡同), được xây vào năm Càn Long thứ 2 ([[1736]]), chia làm hai lộ Đông-Tây. Lộ phía Tây là một đường dài, hình thành các Tiểu viện quây quần, còn phía Đông lộ chia làm Bắc và Nam. Đông Nam là chủ thể kiến trúc, cửa chính 5 gian, chính 5 năm gian, hậu điện 3 gian, tẩm điện 5 gian và hậu tráo phòng 5 gian. Phía Đông Bắc có 3-4 tiển sân, làm khu sinh hoạt. Hiện nay, phủ đệ được trưng dụng thành Viện sử học chuyên nghiên cứu Thanh triều ở Trung Quốc.